Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Phòng ngừa ung thư cổ tử cung



Theo thống kê mỗi năm trên thế giới có khoảng 270.000 phụ nữ tử vong vì căn bệnh ung thư cổ tử cung (UTCTC), trong đó có đến 80% số ca tử vong xảy ra ở những nước có mức sống thấp. Tại Việt Nam, hàng năm có đến hơn 6000 phụ nữ phát hiện bị UTCTC và hơn phân nửa số đó tử vong, đồng nghĩa với mỗi ngày 9 phụ nữ Việt Nam chết vì căn bệnh này. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, đây là căn bệnh ung thư thường gặp hàng đầu ở phụ nữ từ 15-44 tuổi tại Việt Nam.

UTCTC có thể xảy ra ở phụ nữ trẻ và trẻ gái

UTCTC là căn bệnh rất nguy hiểm, gây ra gánh nặng và những tổn thất vô cùng to lớn về sức khoẻ và tinh thần cho bản thân người phụ nữ mắc bệnh và cả những người thân trong gia đình nhưng nhận thức của phụ nữ trong cộng đồng về căn bệnh này còn hạn chế, dẫn đến thiếu ý thức phòng bệnh, đặc biệt là phụ nữ trẻ và các bậc phụ huynh có trẻ gái vị thành niên. Vẫn còn rất ít người biết rằng đây là ung thư có thể phòng ngừa được bằng những biện pháp không hề phức tạp như tiêm ngừa để phòng tránh vi rút gây bệnh và đặc biệt việc chủng ngừa nên thực hiện cho trẻ gái từ sớm, trước giai đoạn trẻ quan hệ tình dục.






Trẻ gái vị thành niên cần được tư vấn và tiêm phòng UTCTC.








Có thể nói UTCTC có thể xảy ra với bất kỳ ai và đặc biệt, tại Việt Nam UTCTC là ung thư phổ biến nhất ở nữ giới từ 15-44 tuổi. Trong nhiều năm công tác trong ngành ung thư phụ khoa, tôi đã gặp những trường hợp bệnh nhân bị UTCTC ở lứa tuổi rất trẻ, thậm chí có trường hợp bé gái bị UTCTC khi mới 16 tuổi. Khi người phụ nữ bắt đầu quan hệ tình dục là họ bắt đầu có nguy cơ nhiễm HPV gây UTCTC. Với sự phát triển của xã hội hiện nay, lứa tuổi quan hệ tình dục tại Việt Nam ngày càng thấp. Nghiên cứu quốc gia về vị thành niên và thanh niên lần 1 (công bố năm 2005) cho thấy tuổi quan hệ tình dục lần đầu ở nam nữ thanh niên Việt Nam là hơn 19 tuổi, đến điều tra lần 2 (công bố năm 2010), độ tuổi này hạ xuống còn 18. Tuy nhiên thăm khám lâm sàng thực tế và khảo sát trên các trẻ vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn tại Bệnh viện Phụ sản Hùng Vương, Bệnh viện Từ Dũ và Trung tâm Sức khỏe sinh sản TP.HCM cho thấy có những trường hợp quan hệ tình dục tự nguyện từ 10-12 tuổi. Cũng trên khảo sát này, tuổi quan hệ tình dục lần đầu của các em là 14 tuổi, sớm hơn rất nhiều so với điều tra quốc gia. Điều này dẫn đến độ tuổi mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục ngày càng trẻ hơn.

… là bệnh lây truyền qua đường tình dục

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung đến nay đã được xác định là vi rút HPV (tên đầy đủ là Human Papillomavirus). Đây là virut rất dễ lây lan và hầu hết mọi phụ nữ đều có nguy cơ nhiễm vi rút này. Trung bình cứ 10 phụ nữ thì có đến 8 người có thể từng một lần nhiễm HPV trong đời. Nguy cơ này có thể xảy ra ngay từ lần quan hệ tình dục đầu tiên. Do đó quan niệm UTCTC không thể xảy đến với mình, từ đó không thực hiện những biện pháp phòng ngừa là một quan niệm cần thay đổi. Vì thực ra căn bệnh này có thể xảy ra với bất kỳ phụ nữ nào.

Có nhiều loại HPV gây UTCTC. Ngoài 2 týp 16,18 là hai loại thường gặp nhất, chịu trách nhiệm khoảng 70% trường hợp UTCTC, các loại 31, 33, 45 là các loại thường gặp tiếp theo. 5 týp này là thủ phạm gây ra hơn 83% các ca UTCTC. Đặc biệt đáng lưu ý là týp 45 cùng với týp 16 và 18 vì 3 týp này là nguyên nhân của 90% những trường hợp UTCTC biểu mô tuyến. Đây là loại UTCTC thường gặp ở phụ nữ trẻ, tiên lượng rất xấu vì tiến triển và di căn rất nhanh. Do đó việc phòng ngừa tránh nhiễm các loại HPV thường gặp là cần thiết chứ không chỉ là phòng ngừa 2 loại 16,18.

Có diễn tiến thầm lặng

UTCTC không xảy ra đột ngột mà trải qua các giai đoạn từ nhiễm vi rút, đến những bất thường ở cổ tử cung, các tổn thương tiền ung thư rồi đến ung thư. Các giai đoạn này diễn ra trong khoảng thời gian khá dài, trung bình từ 10 đến 15 năm. Điều đáng lưu ý là các giai đoạn này bệnh diễn tiến âm thầm, giai đoạn tiền ung thư hầu như không có triệu chứng gì, do đó chị em không nhận biết mình mắc bệnh nếu không đi khám phụ khoa. Khi đã ở những giai đoạn muộn, người mắc UTCTC có những biểu hiện như ra huyết trắng có mùi hôi, có lẫn máu, chảy máu âm đạo sau giao hợp hoặc sau khi làm việc nặng dù đang không có kinh, hoặc nặng hơn có thể chảy dịch có lẫn máu ở âm đạo, kèm theo đau bụng, lưng, vùng chậu và chân. Nếu chị em thấy mình có bất kỳ dấu hiệu nào kể trên thì hãy đến gặp bác sĩ ngay. Không nên coi thường và bỏ qua những triệu chứng này. Khi các triệu chứng bị bỏ qua thì ung thư sẽ có thời gian để tiến triển đến những giai đoạn muộn hơn và việc điều trị sẽ càng khó khăn.

Nên phòng ngừa từ khi còn trẻ

Không quan hệ sớm

Quan hệ sớm (ở tuổi dậy thì) là một trong những yếu tố làm tăng nguy cơ lây nhiễm vi rút HPV. Cơ thể của các em gái trong giai đoạn này tự bảo vệ rất kém trước sự tấn công của các vi rút gây bệnh. Các bệnh lây lan qua đường tình dục ở lứa tuổi này cũng nhanh hơn do các màng nhầy đang ở giai đoạn vô cùng nhạy cảm.

Tiêm vaccin trước lần quan hệ đầu tiên

Điều đáng mừng đây là một loại ung thư có thể phòng ngừa được. UTCTC nguy hiểm và nặng nề như vậy, nhưng để phòng ngừa căn bệnh này lại không quá khó bằng cách tiêm vaccin để phòng nhiễm các týp HPV thường gây UTCTC.

Hiện nay tại Việt Nam đã có vắc xin ngừa những týp HPV gây ung thư phổ biến nhất, được tiêm cho phụ nữ từ 10 đến 25 tuổi, kể cả người chưa và đã có quan hệ tình dục đều có thể tiêm. Tiêm vắc-xin phòng bệnh trước lần quan hệ đầu tiên cho phép chị em phòng bệnh được tới trên 90% nguy cơ. Bên cạnh đó những chị em đã có gia đình cần thực hiện khám phụ khoa và tầm soát bằng phương pháp phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) định kỳ, ít nhất 1 năm/1 lần, để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở những giai đoạn sớm của bệnh.

Thăm khám phụ khoa định kỳ

Bên cạnh đó những bạn gái đã có quan hệ tình dục, ngoài tiêm vaccin phòng bệnh cần thực hiện khám phụ khoa định kỳ và tầm soát bằng phương pháp phết tế bào cổ tử cung (PAP smear) định kỳ, ít nhất 1 năm/ 1 lần, để phát hiện kịp thời và có giải pháp điều trị ở những giai đoạn sớm của bệnh. Đối với bạn gái đã quan hệ tình dục, việc phòng ngừa đạt kết quả cao nhất khi kết hợp 2 phương pháp này.

TS.BS. Lưu Văn Minh

Cần làm gì khi muốn mang thai?



Sinh ra một em bé khỏe mạnh cả về tinh thần và thể chất là niềm mong ước của mọi gia đinh. Để có được niềm hạnh phúc đó, sự chuẩn bị của vợ chồng bạn trước khi mang thai là hết sức cần thiết. Có thể hai bạn cần bổ sung ,thay đổi một số thói quen sinh hoạt và ăn uống trong giai đoạn chuẩn bị sinh con.

Chế độ ăn uống

Để có một tinh trùng, trứng trưởng thành cần có một thời gian là khoảng 3 tháng, vì vậy, kế hoạch mang thai của bạn nên bắt đầu từ 3 - 4 tháng trước đó.

Một chế độ ăn giàu dinh dưỡng cung cấp đủ các yếu tố vi lượng là hết sức cần thiết cho cả hai vợ chồng. Điều chỉnh chế độ ăn hợp lý để có đầy đủ chất dinh dưỡng, cơ thể bạn cân đối cũng là chuẩn bị cho một thời kỳ khỏe mạnh, vì một cơ thể quá gầy hay quá tăng cân đều có thể có rối loạn về nội tiết kèm theo dẫn đến khả năng có thai giảm, nguy cơ sảy thai, thai lưu, tiền sản giật, sản giật tăng lên.






Chuẩn bị mang thai, phụ nữ cần tiêm vắc-xin dự phòng một số bệnh. Ảnh: TM


Bổ sung acid folic

Acid folic hay vitamin B9 cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào của người, động vật, thực vật và cần thiết cho sự hình thành của tế bào máu. Nhu cầu acid folic đối với người bình thường là 180 – 200 mcg/ngày, nhưng với phụ nữ mang thai thì nhu cầu tăng lên là 400mcg/ ngày để đáp ứng sự gia tăng của quá trình phân chia tế bào, cần cho sự tổng hợp nhân tế bào và protein của bào thai, rau thai. Nếu thiếu acid folic trong khi mang thai bà mẹ có thể thiếu máu hồng cầu khổng lồ, tăng nguy cơ sảy thai, sinh non, thai suy dinh dưỡng và thậm chí có thể sinh ra đứa con bị khuyết tật của ống thần kinh. Sự hình thành ống thần kinh xảy ra vào khoảng ngày 28 sau khi thụ thai, do vậy, phải bổ sung acid folic từ trước khi thụ thai mới có hiệu quả dự phòng khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi. Các nhà khoa học khuyến cáo, tất cả phụ nữ có ý định mang thai nên bắt đầu bổ sung acid folic 3 tháng trước thời điểm có thai bằng chế độ ăn thực phẩm giàu acid folic hoặc bổ sung bằng thuốc. Các thực phẩm giàu acid folic như gan động vật, các loại rau có màu xanh thẫm (rau muống, rau ngót, rau súp lơ xanh...) và một số hoa quả như cam, bưởi hoặc bổ sung bằng dạng thuốc uống với liều 400mcg acid folic/ngày trước khi mang thai ít nhất 3 tháng và uống kèm với viên sắt từ khi phát hiện có thai đến sau sinh 1 tháng.

Bổ sung omega-3

Omega-3 là chất cần bổ sung trong giai đoạn chuẩn bị mang thai và suốt quá trình thai nghén. Đặc biệt, nó là chất không thể thiếu trong quá trình phát triển trí não của trẻ. Khi omega-3 trong cơ thể thiếu sẽ kéo theo nguy cơ sinh non và trẻ sinh thiếu cân, chậm phát triển tinh thần. Chính vì thế, các bà mẹ cần chú ý bổ sung đầy đủ omega-3 trước khi mang thai. Cá (cá thu, cá hồi, cá ngừ,...), dầu thực vật là những thực phẩm giúp cung cấp omega-3.

An toàn khi lựa chọn thực phẩm

An toàn thực phẩm luôn là khâu quan trọng hàng đầu mà bạn cần chú ý, đặc biệt trước thời điểm thụ thai. Vì thuốc bảo vệ thực phẩm, chất phụ gia, chất tạo màu không rõ nguồn gốc, quá liều lượng... có thể không ảnh hưởng nhiều đến cơ thể người mẹ nhưng lại ảnh hưởng lớn đến thai nhi.

Một số điều nên tránh

Bạn có thể đã biết thuốc lá làm tăng nguy cơ ung thư phổi, nhưng hơn thế nữa thuốc lá còn làm giảm số lượng và chất lượng của tinh trùng. Một nghiên cứu sâu hơn còn cho thấy, những người phụ nữ khi mang thai bé trai bị “hút” thuốc lá thụ động (chồng, đồng nghiệp hút thuốc lá, phòng kín nhiều khói thuốc lá) thì đứa con sau này sẽ có nguy cơ giảm khả năng sản sinh tinh trùng.

Rượu làm giảm số lượng và khả năng di chuyển của tinh trùng, tăng tỉ lệ dị dạng của tinh trùng và là tiền đề cho dị tật thai, chậm phát triển trí não.

Chế độ làm việc căng thẳng, công việc nhiều áp lực gây stress có thể làm rối loạn sự rụng trứng, giảm sinh tinh trùng và rối loạn chức năng tình dục. Vì vậy, để chuẩn bị sinh con, vợ chồng bạn nên điều chỉnh chế độ làm việc, có khoảng thời gian nghỉ ngơi hợp lý, đặc biệt là phụ nữ.

Lời khuyên của bác sĩ

Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục có thể ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và gây sảy thai, đẻ non, tăng dị tật thai như nhiễm Clamydia có thể gây tắc vòi trứng gây vô sinh, nhiễm giang mai dẫn đến đứa trẻ sẽ mắc bệnh giang mai bẩm sinh, viêm nhiễm phụ khoa gây viêm màng ối gây rỉ ối, nhiễm khuẩn trong tử cung. Có thể bạn không có triệu chứng, không rõ dấu hiệu của viêm nhiễm phụ khoa nhưng việc khám phụ khoa trước khi mang thai rất quan trọng bởi các triệu chứng của viêm nhiễm phụ khoa thường không rõ rệt, không điển hình. Bệnh lý lây qua đường tình dục có khi chỉ xét nghiệm mới phát hiện ra được như nhiễm virut viêm gan B, HIV, giang mai.

Tiêm phòng vắc-xin dự phòng một số bệnh đặc biệt là các bệnh dễ lây qua đường hô hấp mà gây hậu quả nặng nề cho thai như vắcxin cúm, Rubella (sốt phát ban kiểu Đức), nhưng nhớ lưu ý việc tiêm phòng nên kết thúc trước khi có thai 6 tháng.

Quá trình thai nghén làm thay đổi nhiều trong cơ thể người mẹ, tăng gánh nặng cho hệ thống tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa nội tiết...; với người bình thường thì cơ thể sẽ tự điều chỉnh và có thể thích nghi được, nhưng với người có bệnh lý từ trước như bệnh lý tim mạch, thận, nội tiết,bệnh hệ thống thì thai nghén có thể ảnh hưởng nặng nề và làm nặng các bệnh có từ trước. Vì vậy, nếu bạn đang theo dõi điều trị các bệnh lý mạn tính như: tăng huyết áp, tiểu đường, bệnh thận, cường giáp, suy giáp, lupus ban đỏ,... bạn nên gặp bác sĩ chuyên khoa để được lời khuyên về khả năng mang thai và các loại thuốc dùng trong quá trình mang thai.

BS. TRẦN THÙY ANH

Lạc nội mạc tử cung có thể gây vô sinh

Lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là bệnh lý tuy không gây tử vong nhưng có thể dẫn  đến tình trạng vô sinh cho người bệnh vì LNMTC gây tổn thương vòi trứng, phá hủy nhu mô buồng trứng, viêm dính vùng chậu,… 
Nội mạc tử cung là lớp màng (niêm mạc) phủ mặt trong tử cung (dạ con). Lớp niêm mạc này biến đổi hằng ngày theo các chất nội tiết của buồng trứng tiết ra trong chu kỳ kinh nguyệt. Lạc nội mạc tử cung là trường hợp các tế bào niêm mạc tử cung đi lạc chỗ, vào sâu trong lớp cơ của thành tử cung (lạc nội mạc trong cơ) hoặc “lạc” cả ra ngoài tử cung như ở buồng trứng, màng bụng (phúc mạc), thành ruột; thậm chí có khi còn ở trong thận hay phổi...
Biểu hiện lâm sàng điển hình là đau bụng trước kỳ kinh nguyệt, thậm chí kéo dài cho đến nửa sau của chu kỳ kinh nguyệt, có người đau bụng cho đến ngày cuối của chu kỳ. Theo thời gian, cơn đau bụng sẽ ngày càng nặng, kèm theo các triệu chứng như buồn nôn, nôn ọe, tiêu chảy,...
Lạc nội mạc tử cung có thể gây vô sinh 1Ảnh minh họa

Ảnh hưởng đến khả năng sinh sản
Trong số phụ nữ bị vô sinh, có tới 30 - 50% có tổn thương lạc nội mạc tử cung. Cơ chế gây vô sinh của lạc nội mạc tử cung là do biến dạng các tổ chức vùng chậu gây dính, co kéo, ảnh hưởng đến chức năng vòi trứng, buồng trứng, tử cung.
Tế bào nội mạc tử cung đi “lạc” vào vị trí nào sẽ phát triển tại đó, tạo thành những ổ lạc nội mạc tử cung, gây rối loạn kinh nguyệt, thống kinh, đau bụng,... LNMTC ở buồng trứng làm giảm dự trữ noãn ở buồng trứng, ảnh hưởng đến chức năng phóng noãn và thụ tinh giữa noãn với tinh trùng. Ở vòi trứng gây dính hoặc tắc vòi trứng cản trở sự phóng noãn của buồng trứng. Dù ở giai đoạn nào LNMTC cũng có thể ảnh hưởng đến sự làm tổ của thai có thể gây hiếm muộn hoặc vô sinh.
Cần điều trị sớm
LNMTC nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, triệt để sẽ giúp người bệnh giảm những cơn đau khó chịu và cải thiện đáng kể khả năng sinh sản. Tùy từng mức độ của bệnh, người bệnh có thể được dùng các loại thuốc nội tiết có tác dụng làm thoái triển và làm teo các đám niêm mạc tử cung lạc chỗ. Việc dùng thuốc phải do bác sĩ chỉ định, cân nhắc sau khi đánh giá cụ thể mức độ nặng, nhẹ. Trong trường hợp tổn thương LNMTC ảnh hưởng đến khả năng sinh sản thì cần can thiệp phẫu thuật để gỡ dính, phá hủy các tổn thương, nạo vét những ổ lạc nội mạc tử cung trong cơ thể,... Trong trường hợp nặng, lạc nội mạc tử cung sâu có thể cần can thiệp ngoại khoa triệt để, bao gồm cắt bỏ tử cung, hai buồng trứng,…
Vì vậy, khi thấy các biểu hiện nghi ngờ LNMTC, người bệnh cần đến cơ sở y tế chuyên khoa để khám và điều trị sớm, tránh để tình trạng nặng gây ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản.
Bác sĩ Thanh Bình

Bí quyết giữ sức khỏe sau sinh

Thời kỳ sau đẻ có thể nói là giai đoạn cuối cùng của thời kỳ mang thai, sinh nở. Trong thời gian này, sự yếu ớt của cơ thể người mẹ không chỉ biểu hiện ở chỗ các tổ chức cơ quan trong cơ thể có sự biến đổi lớn, tốn nhiều sức lực trong lúc sinh nở làm cho sức đề kháng của cơ thể mẹ giảm sút nhiều, dễ mắc bệnh cảm nhiễm, đồng thời cổ tử cung vẫn còn hé mở làm vi khuẩn dễ xâm nhập và sinh sôi nảy nở trong môi trường thuận lợi là sản dịch nên rất dễ viêm nhiễm. Do vậy, biết về các kiến thức vệ sinh khoa học, phòng ngừa bệnh tật phát sinh chính là mấu chốt để vượt qua thời kỳ sau đẻ một cách thuận lợi.
Sau khi sinh con, cần phải chăm sóc bầu vú như thế nào?
Để đảm bảo việc nuôi con bằng sữa mẹ, sau khi sinh, người mẹ phải chú ý giữ vệ sinh và chăm sóc bầu vú. Trước và sau khi cho con bú phải làm vệ sinh bầu vú và đầu vú sạch sẽ. Do sữa và mồ hôi tiết ra, có lúc trên đầu vú sẽ có cáu bẩn tích lại, nên dùng nước ấm rửa nhẹ nhàng cho đến khi sạch. Trước khi cho con bú, người mẹ phải rửa tay sạch sẽ rồi dùng khăn thấm nước đun sôi để nguội lau đầu vú, quầng vú và cả bầu vú. Nên cho con bú hết sữa, nếu trẻ không bú hết thì ấn nhẹ vào bầu vú để lượng sữa còn lại được vắt hết. Người mẹ cho con bú phải mặc áo lót phù hợp để tránh vú không bị xệ, bảo đảm lưu thông tuần hoàn máu trong bầu vú.
Cần phải đề phòng đầu vú bị nứt hay nhiễm khuẩn. Da trên đầu vú, quầng vú của người mới sinh con rất mềm và mỏng, dễ bị nứt. Khi cho con bú phải cho cả đầu vú và quầng vú vào miệng con, không nên cho con ngậm đầu vú trong miệng quá lâu. Nếu đầu vú bị nứt cần phải điều trị kịp thời để tránh bị nhiễm khuẩn, đồng thời tạm dừng cho trẻ bú cho đến khi vết nứt lành hẳn.
Bí quyết giữ sức khỏe sau sinh 1Bà mẹ cần vệ sinh bầu vú và đầu vú sạch sẽ trước và sau khi cho con bú.
Vì sao phải mát-xa bầu vú?
Mát-xa bầu vú trong thời kỳ sau sinh có thể thúc đẩy tuần hoàn máu và cung cấp dinh dưỡng cho bầu vú, giảm bớt hoặc loại trừ sự sưng vú. Vú bị sưng là hiện tượng rất thường gặp vào thời kỳ này, thường 3-5 ngày sau sinh, biểu hiện là vú căng cứng, da sáng bóng, đau hoặc sờ vào thấy đau, thậm chí phát sốt. Nguyên nhân của hiện tượng này là sữa tiết tốt nhưng việc thoát ra ngoài không thuận lợi. Lúc này cần  phải làm cho tuyến sữa thông suốt, nếu không sẽ dễ bị nhiễm khuẩn và dẫn đến viêm tuyến vú. Phương pháp mát-xa cụ thể như sau: rửa sạch hai tay, dùng khăn mặt đã được khử khuẩn (bằng cách hấp) và vẫn còn hơi nóng đắp lên toàn bộ bầu vú, xoa bóp và ấn nhè nhẹ vào bầu vú theo hướng từ ngoài vào trong để cho sữa tiết ra, cũng có thể phối hợp dùng dụng cụ hút sữa. Có thể tự mình làm hoặc nhờ người thân làm giúp, phải chú ý không được dùng lực quá mạnh.
Làm thế nào để giữ cho tầng sinh môn sạch sẽ?
Sau khi sinh con, tầng sinh môn của phần lớn các bà mẹ đều bị rách và phải khâu. Do tầng sinh môn ở khá gần niệu đạo và hậu môn nên rất dễ bị nhiễm khuẩn và kích thích khi đi đại tiện, vì vậy, chăm sóc giữ gìn tầng sinh môn sạch sẽ là một việc làm rất quan trọng. Mỗi ngày phải dùng dung dịch phụ nữ hoặc nếu không có thì dùng nước ấm pha chút muối loãng rửa tầng sinh môn hai lần, chăm thay băng vệ sinh, sau khi đại tiện phải rửa sạch bên ngoài bằng xà phòng và nước ấm. Trước tiên là rửa âm hộ và hai âm môi, sau đó mới đến hậu môn. Không nên rửa từ hậu môn rồi mới đến âm hộ để tránh đưa những chất bẩn từ hậu môn sang âm hộ. Trong vòng 42 ngày sau khi sinh cần tránh không sinh hoạt vợ chồng. Những người bị đau nhức phần tầng sinh môn cần phải đi khám để phát hiện và điều trị sớm viêm nhiễm.
Cơ thể người mẹ sau đẻ và sự thay đổi thời tiết theo mùa
Vào mùa đông, khi người phụ nữ sinh con, nhiệt năng cơ thể bị tiêu hao rất lớn, tất cả cơ thể đều vận động, mồ hôi ra nhiều, các lỗ chân lông trên da giãn rộng, sản dịch ra nhiều, do vậy sức đề kháng của cơ thể giảm xuống rõ rệt, không thể chịu được các kích thích của gió lạnh, ẩm ướt. Lúc này, nếu không chú ý giữ ấm, tránh gió rét, các cơ quan trong cơ thể rất dễ bị đau nhức mang tính thần kinh như đau nửa đầu, đau lưng, đau chân, đau bụng. Bị lạnh còn có thể làm cho máu đẻ không thoát ra được hoặc bị cảm lạnh. Cho dù là mùa hè, người mẹ cũng không nên tắm nước lạnh, càng không nên ăn hoặc uống đồ lạnh.
Về mùa hè, nhiệt độ và độ ẩm đều cao, thời tiết nóng bức, người mẹ sau khi sinh con nếu ở trong phòng kín không thông thoáng khí, cộng thêm với quan niệm cũ truyền thống, sản phụ sinh xong phải mặc kín, người mẹ sẽ bị ra nhiều mồ hôi, thể chất yếu ớt, phòng kín sẽ khiến nhiệt lượng trong cơ thể người mẹ không có cách gì có thể tản ra được, như vậy dễ làm người mẹ bị cảm nóng.
Thời gian người mẹ phát bệnh cảm nóng rất nhanh, bắt đầu có các biểu hiện khát nước, ra mồ hôi nhiều, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, tức ngực, tim đập nhanh, chân tay rã rời. Lúc này, nếu không kịp thời điều trị thì nhiệt độ cơ thể người mẹ sẽ tăng cao, không ra mồ hôi nữa, đi tiểu ít, mạch đập nhanh, lơ mơ nếu nặng có thể hôn mê.
Khi người nhà phát hiện thấy người mẹ có xuất hiện một vài dấu hiệu của chứng cảm nóng, cần phải lập tức đưa người bệnh đến nơi thoáng gió, dùng các biện pháp hạ nhiệt vật lý, đắp khăn lạnh lên đầu, cho uống oresol (ORS) hoặc nước đường pha một chút muối, nếu nặng phải đưa ngay đến bệnh viện cấp cứu. Để người mẹ có thể trải qua một thời kỳ sau đẻ trong mùa hè một cách thuận lợi, phòng ở cần phải thông thoáng. Khi trời quá nóng, nếu có điều kiện thì dùng điều hòa ở nhiệt độ 25-260C, nếu dùng quạt máy không nên để thổi thẳng vào người. Nhiệt độ thích hợp có lợi cho việc nghỉ ngơi, cho con bú và phục hồi sức khỏe của người mẹ.
BS. Lê Thu Hương

Viêm gan B và thai nghén

Nhiễm virut viêm gan B là một vấn đề nghiêm trọng đối với phụ nữ mang thai. Không chỉ người mẹ phải đối mặt với những nguy hiểm của bệnh viêm gan mà còn có thể truyền bệnh cho con. Vì vậy, bà mẹ mang thai cần hiểu về cách phòng bệnh để tránh nguy cơ nhiễm virut viêm gan B.
Nguy hiểm cả mẹ lẫn con
Khi mang thai cơ thể thai phụ có nhiều biến đổi do tình trạng thai nghén gây nên, nhất là khi gan đã có bệnh. Sức đề kháng giảm, nên tình trạng bệnh tật của người mẹ sẽ nặng hơn dễ bùng phát đợt viêm gan cấp, khiến cho việc nuôi dưỡng thai nhi sẽ ảnh hưởng. Trước hết là quá trình hấp thụ dinh dưỡng, theo các nghiên cứu, quá trình mang thai nhiễm bệnh thì tỷ lệ thấp cân khi sinh và đẻ non ở trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HBV cấp cao hơn bình thường. Mặt khác, nhiễm HBV cấp tính xảy ra sớm trong thai kỳ có liên quan đến tỷ lệ lây truyền chu sinh 10%. Tỷ lệ lây truyền tăng đáng kể nếu nhiễm khuẩn cấp tính xảy ra vào lúc hoặc gần lúc sinh lên tới 60%. Ngoài ra, người mẹ cũng dễ mắc các bệnh truyền nhiễm khác.
Viêm gan B và thai nghén 1
Ảnh minh họa

Nếu người mẹ tái phát các đợt viêm gan cấp sẽ dẫn đến tình trạng chức năng gan bị suy giảm nhiều hơn, có thể dẫn đến biến chứng nặng nhất của viêm gan là teo gan, thậm chí mất hết các yếu tố đông máu, hoặc làm cho băng huyết không cầm được khi sảy thai hoặc trong quá trình chuyển dạ sinh đẻ. Cơ thể cũng không còn khả năng chống độc nên dẫn đến hôn mê do nhiễm độc gan.
Xác định bệnh cách nào?
Virut viêm gan B tồn tại trong máu, sữa mẹ, nước bọt, dịch mật, và một số các dịch tiết của cơ thể. Nhưng bệnh lây truyền chủ yếu theo đường máu thông qua quan hệ tình dục, tiêm truyền (chung bơm kim tiêm), và đặc biệt là mẹ truyền cho con khi sinh đẻ. Vì vậy, khi có kế hoạch sinh con, để biết mình có mang virut viêm gan B hay không cần được làm xét nghiệm máu để tìm kháng nguyên bề mặt của virut (thường được gọi là xét nghiệm HbsAg).
Phòng bệnh
Hiện nay, tiêm phòng vắc- xin viêm gan B để phòng bệnh là biện pháp hữu hiệu nhất. Việc tiêm phòng vắc- xin viêm gan B đã đưa vào Chương trình tiêm chủng mở rộng quốc gia cho tất cả trẻ em dưới 1 tuổi. Tuy nhiên, đối với các trẻ mới sinh từ các bà mẹ mang virut viêm gan B thì ngay khi sinh ra cần tiêm ngay cho trẻ một mũi huyết thanh HBIG (là một loại globulin miễn dịch có tác dụng trung hòa virut viêm gan B), rồi sau đó tiêm phòng cho trẻ vắc - xin phòng viêm gan B càng sớm càng tốt. Với người trưởng thành và các bà mẹ mang thai cũng nên tiêm phòng vắc - xin nếu sau khi làm xét nghiệm HbsAg có kết quả âm tính.
Ngoài việc tiêm phòng vắc- xin viêm gan virut B, cần tránh bị lây nhiễm như khi tiêm, chích, cạo râu, bàn chải răng... phải dùng riêng. Phải bảo đảm an toàn trong quan hệ tình dục, tránh trao đổi các chất dịch cơ thể trong khi sinh hoạt tình dục qua đường miệng, âm đạo hoặc hậu môn. Băng ngay các vết cắt hoặc vết bầm tím để tránh tiếp xúc với máu.  Không bao giờ chạm vào máu hoặc chất dịch của bất kỳ người nào mà không dùng dụng cụ bảo vệ giữa bạn và chất có thể đã nhiễm siêu vi gây bệnh.
BS. Nguyễn Thị Thúy

Xử trí ra máu bất thường ở âm đạo khi dùng nội tiết tránh thai

Ra máu bất thường âm đạo là một thuật ngữ nói lên tình trạng ra máu ngoài chu kỳ kinh bình thường của chị em phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Ở những phụ nữ có dùng thuốc nội tiết tránh thai có ra máu âm đạo được định nghĩa chảy máu không định trước, tính trong khoảng 90 ngày từ ngày bắt đầu sử dụng nội tiết tránh thai.
Tình trạng này bao gồm ra máu thường xuyên có trên 5 đợt ra máu, ra máu kéo dài có trên một đợt ra máu kéo dài 14 ngày và ra máu bất thường có từ 3 - 5 đợt ra máu xảy ra dưới 14 ngày.
Tại sao có sự ra máu bất thường?
Nội tiết tránh thai về cơ chế có vai trò ngăn cản không cho sự thụ thai xảy ra, bằng nhiều phương cách và tác động lên nhiều giai đoạn trong quá trình thụ thai. Với hai thành phần chính trong thuốc nội tiết tránh thai là estrogen và progesterone. Cụ thể chống sự rụng trứng, ngăn cản sự xâm nhập của tinh trùng, làm nội mạc tử cung không còn thích hợp cho sự làm tổ của trứng. Về mặt không mong muốn đối với nội tiết tránh thai là tăng cân, tăng chuyển hóa đường đạm, tắc nghẽn mạch do huyết khối, vì là thành phần steroid có làm thay đổi ít nhiều lên chức năng gan.
Xử trí ra máu bất thường ở âm đạo khi dùng nội tiết tránh thai 1Trước khi lựa chọn các biện pháp tránh thai dùng dạng nội tiết, nhất thiết phải được tư vấn của bác sĩ chuyên khoa.
Mặt khác, nhận thấy khi sử dụng có giảm sức bền mạch máu nông gây ra sự ra huyết, đáp ứng nội mạc đối với nồng độ estrogen và progesterone trong quá trình sử dụng kéo dài ảnh hưởng đến mô học nội mạc tử cung. Bên cạnh đó, một số bệnh lý tại cổ tử cung như: viêm cổ tử cung, góp phần vào tình trạng ra máu âm đạo những dấu hiệu này đôi lúc người phụ nữ hay bỏ qua vì các dấu hiệu trên thực tế không thấy xuất hiện mà chỉ có dấu hiệu ra huyết trắng trước khi dùng nội tiết.
Các kiểu ra máu âm đạo khi sử dụng nội tiết tránh thai
Các loại viên thuốc tránh thai kết hợp, dưới dạng viên, dạng dán: kiểu ra máu không đều, khoảng 20%, xảy ra trong 3 tháng đầu, sang tháng thứ tư trở đi ra máu ổn định trong chu kỳ kinh mà không có sự ra máu bất thường. Đối viên thuốc chỉ chứa progesterone dạng uống, có 1/3 số phụ nữ có sự thay đổi chu kỳ kinh, trong đó chiếm 10%, có ra máu thường xuyên ngoài chu kỳ. Đôi khi sự ra máu không ổn định theo chu kỳ kinh. Đối với loại thuốc tiêm và thuốc dạng que cấy chỉ chứa progesterone thường có rối loạn ra máu, trong đó khoảng 35% có hiện tượng vô kinh. Sau 6 tháng sử dụng, có khoảng 15% ra máu kéo dài hơn chu kỳ kinh.
Cách kiểm soát
Đối với viên thuốc ngừa thai kết hợp tiếp tục uống trong 3 tháng: với những loại viên ngừa thai chỉ có progesterone vẫn có thể dùng, không nhất thiết phải hỗ trợ việc dùng kèm với một loại thuốc khác để cải thiện việc ra máu, lợi ích dùng để tránh thai vẫn mang lại nhiều hiệu quả hơn là nguy cơ. Riêng thuốc ngừa thai dạng que cấy hay dạng tiêm, vẫn sử dụng có thể kết hợp Mefenamid acid 500mg uống liên tục trong 5 ngày, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên, một khi có sự ra máu kéo dài, hoặc ra máu nhiều. Chú ý dùng Mefenamid acid, không dùng cho người nhạy cảm với thuốc hoặc loét dạ dày.
Các chọn lựa điều trị ra máu bất thường ở phụ nữ sử dụng que cấy: chỉ định lấy que cấy ra một khi: người sử dụng yêu cầu, ra máu kéo dài khi điều trị nội khoa thất bại, ra máu nhiều và cách điều trị hỗ trợ can thiệp không hiệu quả.
Khi phụ nữ sử dụng nội tiết tránh thai, có hiện tượng ra máu ngoài chu kỳ kinh hoặc mỗi chu kỳ kinh xảy ra, lượng ra máu nhiều hơn, cần thiết đi khám phụ khoa và có ý kiến của bác sĩ chuyên khoa. Chọn lựa điều trị ra máu bất thường mà có sử dụng biện pháp tránh thai chỉ có progesterone cần thêm các dấu hiệu chứng cứ để có lựa chọn điều trị hiệu quả. Trước khi lựa chọn các biện pháp tránh thai dùng dạng nội tiết, nhất thiết phải được tư vấn của bác sĩ chuyên khoa về kiểu ra máu được mong đợi.
  BS.CKII. NGUYỄN HỮU THUẬN

94% cơ hội sống cho bệnh nhân ung thư buồng trứng

Thông tin trên được đưa ra bởi PGS.TS Nguyễn Nghiêm Luật tại hội thảo “Giới thiệu các xét nghiệm chuyên sâu về dấu ấn ung thư, xét nghiệm sinh học phân tử, xét nghiệm sinh sản và sàng lọc trước sinh” do bệnh viện Medlatec tổ chức vừa qua.

Ung thư buồng trứng là nguyên nhân tử vong đứng thứ 4 do các bệnh ung thư nói chung ở phụ nữ trên thế giới. Đáng tiếc là khoảng 70-75% ung thư buồng trứng chỉ được phát hiện ở giai đoạn muộn, tỷ lệ sống sót trên 5 năm của các bệnh nhân chỉ là 46%. Tuy nhiên nếu bệnh được chuẩn đoán sớm thì tỷ lệ sống sót có thể đạt đến 94%.
94% cơ hội sống cho bệnh nhân ung thư buồng trứng 1
Ảnh minh họa.
Ung thư buồng trứng thường khó phát hiện ở giai đoạn đầu vì bệnh không có triệu chứng rõ ràng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ (như đau bụng, đau vùng chậu, tăng kích thước vòng bụng, đầy hơi, cần tiểu..). Chính vì thế mà người bệnh chủ quan không kiểm tra sức khỏe. Chỉ đến khi người bệnh cảm thấy rõ những dấu hiệu khác thường của cơ thể thì khi ấy bệnh đã quá nặng và có dấu hiệu di căn.

Xét nghiệm máu HE4 phát hiện ung thư buồng trứng ngay từ giai đoạn I

Xét nghiệm sẽ tính lượng Protein có tên HE4 trong máu, nếu lượng HE4 ít là buồng trứng hoàn toàn bình thường, nếu lượng HE4 cao là dấu hiệu cho thấy nguy cơ mắc bệnh. Phương pháp này có ý nghĩa trong việc chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng, đặc biệt là các trường hợp nghi ngờ ung thư buồng trứng thể nội mạc, thể thanh dịch và thể tế bào; theo dõi diễn biến của bệnh và hiệu quả điều trị ung thư buồng trứng; phát hiện ung thư buồng trứng tái phát sau điều trị phẫu thuật. 

Theo PGS-TS Nguyễn Nghiêm Luật, so với phương pháp khám buồng trứng (CA125) vẫn áp dụng trước đây thì xét nghiệm HE4 phát hiện được bệnh ở ngay từ giai đoạn I còn CA125 thì chỉ phát hiện được bệnh ở giai đoạn cuối. Xét nghiệm HE4 không chỉ phát hiện chính xác trường hợp mắc bệnh mà còn nhạy cảm với ung thư biểu bì cao hơn 40% so với CA125. Nếu kết hợp xét nghiệm HE4 và CA125 có thể giúp chẩn đoán phân biệt giữa khối u lành tính hoặc ác tính ở vùng chậu hông ở những phụ nữ tuổi trước và sau mãn kinh chính xác hơn. 

PGS.TS Nguyễn Nghiêm Luật khuyến cáo, chị em nên đi khám và làm các xét nghiệm dấu ấn ung thư (như xét nghiệm HE4- xét nghiệm máu rất nhanh gọn) phối hợp với các phương pháp khác như PAP (ung thư cổ tử cung, tử cung), nội soi (các loại ung thư dạ dày trực tràng..) để ngăn ngừa, tránh được những tình trạng đáng tiếc xảy ra khi phát hiện bệnh quá muộn.

Thanh Loan

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons