This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 2 tháng 7, 2015
Làm sao tránh trầm cảm sau sinh?
Những phụ nữ mắc bệnh trầm cảm sau sinh thường kèm theo trạng thái lo sợ con mình sẽ bị hại và bản thân mình là người mẹ xấu. Trầm cảm sau sinh có thể nhẹ, vừa hoặc nặng, có thể thoáng qua hoặc kéo dài. Tuy nhiên, bệnh có thể điều trị và trong một số trường hợp có thể dự phòng. Một số trường hợp tự tử sau sinh do bị trầm cảm.
Vì sao mắc bệnh?
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến trầm cảm sau sinh. Nhưng chủ yếu là các yếu tố sau đây:
Thay đổi về nội tiết: sau khi sinh, việc giảm đột ngột estrogen và progestrogen góp phần gây nên trạng thái trầm cảm. Hormones tuyến giáp giảm nhanh chóng gây ra cảm giác mệt mỏi và trầm cảm; Thay đổi về thể tích máu, huyết áp, hệ miễn dịch và chuyển hóa dẫn đến tình trạng mệt mỏi và dễ thay đổi cảm xúc.
Bản thân người phụ nữ: những phụ nữ sau sinh nếu rơi vào tình huống bạo hành gia đình thì nguy cơ bị trầm cảm cũng tăng gấp 5 lần. Những sản phụ có thai ngoài ý muốn cũng là nhóm có nguy cơ bị trầm cảm sau sinh. Ngược lại, với những người có thai như mong muốn sẽ giảm đến 80% nguy cơ bị trầm cảm.
Những sự kiện gây căng thẳng dễ dẫn đến trầm cảm sau sinh.
Về phía em bé: khó khăn trong chăm sóc bé. Tình trạng sức khỏe của đứa trẻ sinh ra cũng ảnh hưởng đến khả năng bị trầm cảm ở mẹ.
Yếu tố di truyền: trong gia đình có người bị trầm cảm (mẹ, chị, cha) thì nguy cơ bệnh cao.
Ai dễ mắc?
Tiền sử bị bệnh trầm cảm sau sinh, nguy cơ lặp lại 50%. Tiền sử trầm cảm ngoài thai kỳ, nguy cơ trầm cảm sau sinh 25%. Ngưng dùng thuốc chống trầm cảm lúc mang thai, 68% rơi vào trạng thái trầm cảm, nếu tiếp tục dùng thuốc thì 25% bị trầm cảm; Tuổi < 18.
Những sự kiện gây căng thẳng trong thời gian trước: bệnh tật, hiếm muộn, thất nghiệp; thiếu sự giúp đỡ, đồng cảm chia sẻ của người thân, đặc biệt là người chồng; mâu thuẫn vợ chồng, mâu thuẫn với mẹ chồng; thai kỳ không mong muốn; biến chứng thai kỳ: thai lưu, sẩy thai; trầm cảm dễ xuất hiện ở người con so, tuy nhiên vẫn có thể xảy ra ở con rạ.
Khi bị trầm cảm sau sinh, người mẹ dễ sụt cân, suy dinh dưỡng, suy nhược thần kinh, hoang tưởng, hành vi nguy hiểm. Người bị trầm cảm sau sinh có ý nghĩ hay hành vi tự tử (41.2%).
Bên cạnh đó, những người thân cũng bị ảnh hưởng: chồng và con không được chăm sóc tốt, gia đình không được vui vẻ.
Dấu hiệu nhận biết
Trầm cảm sau khi sinh biểu hiện khác nhau ở từng người nhưng có một số triệu chứng bạn có thể nhận thấy: bị hoảng loạn hoặc sợ hãi; thường xuyên lo lắng về sức khỏe, sự an toàn của bạn và những người thân; cảm thấy mình chưa là một người mẹ tốt; liên tục thấy mình bất hạnh, thường xuyên muốn khóc một cách vô cớ; lúc nào cũng muốn ngủ và không bao giờ cảm thấy thư thái; thấy khó ngủ; không thể nói chuyện về việc sinh con hoặc liên tục nói về nó vì bạn cảm thấy mất khả năng kiểm soát; cảm thấy cuộc sống vô vị kể từ khi sinh con, cảm thấy vô dụng, nghĩ rằng bạn không có mối gắn kết gì với bé hoặc không có chút tình cảm gì với bé; đánh mất khái niệm về thời gian và không thể nói lên sự khác biệt giữa một vài phút và một vài giờ.
Làm gì khi bị trầm cảm sau khi sinh?
Nếu bạn cảm thấy mình có thể bị trầm cảm sau khi sinh, hãy nói chuyện với bác sĩ của bạn, họ là những người tốt nhất có thể giúp bạn. Dưới đây là một số điều bạn có thể làm để giúp giảm bớt các triệu chứng trên: đừng kìm nén cảm xúc, hãy trò chuyện với chồng, bạn thân, bà con họ hàng hoặc những bà mẹ khác về những gì bạn đang trải qua; đừng cố gắng làm quá nhiều việc trong một ngày; đón nhận sự giúp đỡ từ những người xung quanh; dành thời gian để nghỉ ngơi; đừng cảm thấy tội lỗi với những gì bạn đang trải qua.
Điều trị
Khi người mẹ nghĩ rằng mình bị trầm cảm sau sinh thì nên đến bác sĩ càng sớm càng tốt. Một số thuốc thông thường được sử dụng trong trường hợp này là thuốc an thần hoặc thuốc chống trầm cảm, bao gồm những loại thuốc an toàn khi cho con bú. Bên cạnh việc dùng thuốc thì điều quan trọng là phải duy trì chế độ dinh dưỡng tốt, vitamin B6 hoặc vitamin tổng hợp nên được dùng.
Nếu thuốc thích hợp với bạn thì đừng nên rút ngắn thời gian điều trị bởi vì trầm cảm cần thời gian điều trị kéo dài để được phục hồi hoàn toàn. Nếu sau khi ngưng thuốc mà các triệu chứng tái phát thì đừng nên thất vọng mà nên đến bác sĩ tư vấn thêm. Thông thường bác sĩ tiếp tục điều trị với thuốc trước đó. Sau đó nếu có hiệu quả thì giảm liều dần, và điều này dự phòng được việc tái phát.
Việc điều trị cho bệnh nhân trầm cảm sau sinh có hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của người thân. Động viên và cùng tham gia chăm sóc em bé sẽ giúp cho bệnh nhân nhanh chóng bình thường trở lại. Bạn bè và gia đình chắc chắn rằng người mẹ bị trầm cảm đang được bác sĩ chỉ định điều trị. Nếu đơn thuốc không thích hợp thì phải động viên bệnh nhân trở lại bác sĩ và yêu cầu thay đổi đơn thuốc.
Bên cạnh đó, các bà mẹ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các chuyên gia trị liệu hội chứng trầm cảm sau sinh
Bệnh nhân cần phải tin tưởng rằng tình trạng sức khỏe của mình sẽ tốt hơn, bạn cần sự kiên nhẫn và nhận thức rằng sự phục hồi sẽ đến sớm. Hãy thư giãn và quên đi đau đớn thì căn bệnh trầm cảm sẽ dần dần tan biến.
Hãy nghỉ ngơi nhiều bởi vì sự mệt mỏi sẽ làm cho bệnh trầm trọng hơn. Tránh thức khuya và có thể nhờ người khác cho con bú. Đừng quên ăn uống đầy đủ vì nếu hạ đường huyết cũng sẽ làm cho bệnh nặng nề hơn. Nên ăn nhiều trái cây và rau quả khi bạn cảm thấy đói. Nên uống viên đa sinh tố mỗi ngày.
Phòng tránh thế nào?
Vai trò của người thân
Có thể nói, trong giai đoạn nhạy cảm này, vai trò của người chồng chiếm vị trí rất quan trọng. rất nhiều ông chồng nghĩ rằng, chỉ cần cung cấp vật chất cho vợ là đủ mà không hề nhận thức được sự quan tâm, chia sẻ bằng hành động và lời nói động viên có thể giúp người vợ tránh được nguy cơ trầm cảm. Hơn ai hết, người chồng, gia đình, người thân… cần gần gũi chia sẻ với sản phụ trong thời kì hậu sản, để có thể tránh được những hệ quả đáng tiếc có thể xảy ra.
Động viên, gần gũi và chia sẻ với thai phụ về cuộc chuyển dạ và chăm sóc bé sau sinh. Hướng dẫn thai phụ về việc nuôi con bằng sữa mẹ.
Bản thân người mẹ
Cố gắng tìm cho mình một giấc ngủ. Gắng đi ngủ sớm hơn nếu bạn phải thức dậy nửa đêm cho bé bú. Nên ngủ buổi trưa dù chỉ 30 phút. Nói chuyện và chia sẻ với bạn bè, gia đình hoặc các chuyên gia tâm lý để trút bỏ những cảm giác mệt mỏi trong người. Nên hỏi bạn bè và gia đình về kinh nghiệm chăm sóc em bé của họ. Sống tích cực, suy nghĩ lạc quan, đừng để những điều buồn chán làm ảnh hưởng đến tâm lý của bạn. Hãy nhớ rằng bạn luôn là người mẹ tốt nhất cho con của mình, đừng bao giờ so sánh mình hay con mình với người khác, đừng để áp lực đè nặng lên đôi vai của bạn.
BS. Lê Anh
Bài tập phục hồi sau sinh
Theo tư vấn của cử nhân vật lý trị liệu Cao Thị Kim Hân, Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM, sau sinh khoảng hai tháng, chị em có thể bắt đầu chương trình luyện tập thể dục để phục hồi sức khỏe và lấy lại vóc dáng. Nên tập từ ít đến nhiều, từ nhẹ đến tăng dần tùy tình trạng sức khỏe. Khởi đầu, chị em nên tập hai lần một ngày, mỗi động tác lặp lại khoảng hai mươi lần, sau đó tăng dần số lần tập cũng như số lần lặp lại của động tác. Điều quan trọng nên nhớ là ở điểm dừng của mỗi tư thế, chúng ta nên giữ lại năm đến mười giây.
Cử nhân Kim Hân hướng dẫn: sau sinh, chị em nên chú ý đến bài tập cân bằng vùng cơ lưng, vì trong thời gian dài mang thai, vùng lưng thường bị ưỡn nhiều, dễ gây đau.
Cách tập: Nằm ngửa, hai chân chống trên giường, ấn mạnh vùng thắt lưng xuống giường giữ lại năm giây, lặp lại 30 lần (bài tập này chị em có thể tập sớm sau sinh).
Bên cạnh đó là hai bài tập vô cùng quan trọng cho cơ sàn chậu để phục hồi sự đàn hồi của tử cung ở những phụ nữ sau sinh.
Bài tập 1: Hít vào nhíu mông lại giống như nhịn tiểu khoảng năm giây sau đó thả lỏng rồi thở ra, lặp lại 20 lần (bài tập này chị em có thể tập sớm sau sinh).
Bài tập 2: Nằm ngửa, hai chân chống trên giường, hít vào phình bụng lên, thở ra xẹp bụng xuống. Lặp lại một lần nữa, hít vào phình bụng lên sau đó thở ra gắng sức xẹp bụng xuống, hít vào gắng sức nâng ngực lên (trong khi đó bụng vẫn xẹp) giữ lại 10 giây. Lặp lại bài tập 10 lần.
Nâng cao hơn là bài tập lấy lại vóc dáng sau sinh:
Bài tập cho cơ bụng trên: Từ tư thế nằm ngửa hai tay đặt dọc thân (hình A). Duỗi thẳng hai tay trước bụng. Hít sâu, nâng hai chân lên và ngóc đầu dậy giữ lại 5-10 giây rồi trở lại tư thế ban đầu và thở ra (hình B, C).
Bài tập cho cơ bụng dưới: Từ tư thế nằm ngửa và co hai chân (hình A). Hít sâu đưa hai gối sang trái giữ lại 5-10 giây rồi trở lại tư thế ban đầu thở ra (hình B). Sau đó làm tương tự với bên phải (hình C).
NGUYỄN CẨM
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Những hiểu lầm thường gặp của chị em về sự thụ thai
Sử dụng siro ho hay giơ cao chân sau khi quan hệ có thể làm tăng khả năng thụ thai... tất cả đều là những quan niệm sai lầm.
Infographic dưới đây sẽ cung cấp cho bạn những thông tin đầy đủ về những hiểu lầm cần biết và tránh để có một đời sống sinh hoạt lành mạnh và sức khoẻ tốt, giúp làm tăng khả năng
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Thực phẩm mẹ bầu cần tuyệt đối tránh
Mướp đắng (khổ qua): Có thể nói, lợi ích từ mướp đắng rất nhiều nhưng nếu việc sử dụng quá thường xuyên hoặc lạm dụng thì lại không tốt chút nào. Vị đắng của quả gây kích thích mạnh dẫn đến co bóp tử cung và dạ dày, hậu quả có thể gây sảy thai ở những người có tử cung ngả sau, tử cung có sẹo hoặc đã qua nạo phá nhiều lần.
Khoai tây mọc mầm xanh: Đây là thực phẩm rất độc vì có chứa một chất độc có tên là Solanin có thể gây ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng mà người ta chưa lường hết, nhất là rủi ro gây sẩy thai.
Sữa và các sản phẩm chế biến từ sữa chưa được tiệt trùng: Listeria là vi khuẩn có thể gây ra sẩy thai ở bất kỳ giai đoạn của thai kỳ. Khi thịt gà, hải sản chưa được nấu chín hay pho mát chưa được tiệt trùng, sữa hoặc các sản phẩm sữa cũng vậy đều có số lượng lớn vi khuẩn Listeria. Vì thế bạn phải chú ý ăn chín, uống sôi.
Nước ép trái cây đóng hộp: Luôn kiểm tra nhãn sản xuất của các loại nước ép để chắc chắn xem chúng có được tiệt trùng hay không. Coli được tìm thấy trong các gói nước trái cây. Vì vậy hãy phòng ngừa bằng cách không uống chúng để ngăn ngừa sẩy thai.
Rau sam: Đây là loại rau có hàm lượng dinh dưỡng cao mà đồng thời còn là một loại dược liệu rất tốt. Tuy nhiên, đối với người có thai thì bạn hãy hạn chế việc sử dụng rau sam. Bởi rau sam có thể gây kích thích mạnh đến tử cung và gia tăng tần suất co bóp, điều này rất dễ dẫn đến sảy thai và nguy hiểm cho sức khỏe của phụ nữ.
Ngải cứu: Ngải cứu có vị đắng, cay, mùi thơm, tính hơi ấm nên có tác dụng tốt trong việc điều hoà tuần hoàn máu, làm dịu thần kinh, giúp giảm đau cơ và các cơn đau ở vùng bụng. Việc sử dụng hợp lý ngải cứu sẽ đem lại nhiều lợi ích cho người mang thai nhưng nếu lạm dụng ngải cứu trong vòng 3 tháng đầu thai kì có thể dẫn đến ra máu nhiều, co tử cung và sảy thai.
Rau ngót: Trong rau ngót có chứa Papaverin là một chất được tìm thấy trong cây thuốc phiện, có tác dụng giãn cơ trơn của mạch máu để giảm đau, hạ huyết áp. Nếu sử dụng một lượng rau ngót tươi hơn 30mg thì có thể gây co thắt tử cung và dễ dẫn đến sảy thai.
Mùi tây: Mùi tây có chứa thành phần điều kinh, kích thích kinh nguyệt. Do tác dụng kích thích đối với cơ thể nên không được dùng mùi tây đối với phụ nữ đang mang thai.
Rau răm: Là loại rau dễ trồng và thường được dùng kèm trong nhiều món ăn của người Việt Nam, rau răm có vị cay nồng, mùi thơm hắc, tính ấm. Tác dụng của rau răm khi ăn sống thì ấm bụng, giúp tiêu thực, tán hàn.Việc sử dụng nhiều rau răm trong 3 tháng đầu thai kì khiến người mẹ dễ bị mất máu, đặc biệt trong rau răm còn có chất khiến tử cung co bóp dẫn đến sảy thai.
Quả dứa: Bà bầu mang thai 3 tháng đầu không nên ăn, uống quá nhiều nước ép dứa vì loại quả này có thể gây ra những cơn co thắt tử cung làm sảy thai; gây tiêu chảy hoặc dị ứng cho bà bầu. Nguyên nhân là do dứa tươi có chứa bromelain có tác dụng làm mềm tử cung, tạo ra chất gây phá thai. Tuy nhiên, qua 3 tháng đầu thai kỳ, mẹ bầu có thể ăn một lượng dứa vừa phải, phù hợp.
Quả nhãn: Nhãn là một loại quả ăn rất ngon, có mùi thơm, vị ngọt. Tuy nhiên, đây lại cũng là một loại quả mẹ bầu không nên ăn trong quá trình mang thai. Bởi phụ nữ mang thai thường có triệu chứng nóng trong và thường có các hiện tượng táo bón, ăn nhãn nhiều sẽ tăng nóng trong, động huyết động thai, ra huyết đau bụng, đau tức bụng dưới, thậm chí tổn thương thai khí, dẫn tới sảy thai.
Quả đào: Quả đào có vị ngọt, tính nóng nên nếu ăn nhiều đào, bà bầu dễ bị xuất huyết. Lông ở vỏ quả đào rất dễ gây ngứa, rát cổ họng.
Đồ biển: Tuy đồ biển chứa nhiều a-xít béo omega-3 có lợi cho sự phát triển của trẻ nhưng bạn cần tránh các loại thực phẩm chứa nhiều thủy ngân. Những đồ biển thường chứa thủy ngân như cá hồi, cua hoặc thịt cá mập… có thể gây hại cho não trẻ.
Gan động vật: Gan động vật cũng có thể gây nguy hại cho mẹ bầu vì đây là nơi tập trung nhiều độc tố nếu động vật bị nhiễm bệnh. Ngoài ra, trong gan cũng có chứa nhiều cholesterone và vitamin A. Nếu mẹ bầu ăn quá nhiều gan, kết hợp dùng thêm các loại thuốc hay thực phẩm dinh dưỡng khác có thể gây ra hiện tượng thừa vitamin, ảnh hưởng xấu đến bé yêu.
Cà phê: Cà phê mặc dù sẽ khiến bạn tỉnh táo hơn, minh mẩn hơn tuy nhiên nó lại không hoàn toàn phù hợp với phụ nữ mang thai đâu nhé. Bên cạnh hàm lượng caffein có trong cà phê sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của mẹ bầu và thai nhi, làm rối loạn quá trình phát triển tự nhiên của thai nhi thì cà phê còn là thực phẩm gây sảy thai khá phổ biến mà không phải ai cũng biết.
Cảnh giác suy thận cấp ở thai phụ
Theo thống kê, suy thận cấp ở thai phụ chiếm khoảng 20% trong tổng số các trường hợp suy thận cấp nói chung với tỷ lệ tử vong cao tới 50%. Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh có xu hướng giảm do điều kiện vệ sinh, chăm sóc và thăm khám kiểm tra thai phụ ngày càng được cải thiện.
Suy thận cấp trong thai kỳ là sự suy giảm chức năng thận đột ngột xảy ra trong những tháng của thời kỳ có thai với các biểu hiện cũng giống như suy thận cấp ở các đối tượng khác như thiểu niệu, vô niệu, mức lọc cầu thận giảm, xét nghiệm thấy ure, creatinin máu tăng cao và các triệu chứng của nguyên nhân gây suy thận như sốc, nhiễm khuẩn, sỏi niệu quản… Suy thận cấp ở thai phụ cần được chú ý thường xuyên do tỷ lệ gây tử vong cao.
Nguyên nhân gây bệnh
Có 3 nhóm nguyên nhân gây suy thận cấp ở thai phụ. Nhóm nguyên nhân thứ nhất là do mất dịch hoặc mất máu. Mất dịch ở thai phụ chủ yếu có liên quan đến hiện tượng nôn mửa quá mức do nghén. Nếu một người có thai với biểu hiện nghén bình thường, lượng nước mất đi không quá nhiều và có thể dễ dàng bù lại bằng đường uống để đảm bảo thể tích tuần hoàn. Nhưng trong nhiều trường hợp, thai phụ có nghén nặng và nôn mửa rất nhiều, trong trường hợp này, lượng nước sẽ mất nhiều dẫn đến giảm mức lọc cầu thận và suy thận cấp có thể xảy ra. Mất dịch cũng có thể xảy ra khi thai phụ bị tiêu chảy do rối loạn tiêu hóa, nhiễm trùng nhiễm độc thức ăn, do dùng thuốc lợi tiểu (để điều trị tăng huyết áp… có từ trước đó…). Mất máu dẫn đến tụt huyết áp, suy thận cấp ở thai phụ hay gặp nhất khi sinh nở. Nguyên nhân mất máu bao gồm vỡ tử cung, đờ tử cung, rối loạn đông máu… không được hoặc không thể bù đắp kịp thời. Các nguyên nhân khác như sốt xuất huyết, chảy máu tiêu hóa… cũng có thể làm giảm khối lượng tuần hoàn dẫn tới giảm mức lọc cầu thận ở thai phụ tuy có ít gặp hơn.
Nhóm nguyên nhân thứ hai có thể gây suy thận cấp ở thai phụ là nhóm nguyên nhân gây huyết khối vi mạch thận. Nhóm nguyên nhân này hay gặp hơn và hậu quả cũng nặng nề hơn so với các nhóm nguyên nhân còn lại. Đầu tiên phải kể đến là chứng ban xuất huyết giảm tiểu cầu (Thrombotic thrombocytopenic purpura), hội chứng tán huyết có tăng ure máu (Hemolytic uremic syndrome) và hội chứng HELLP (Tán huyết-hemolysis, tăng men gan-elevated liver enzymes và giảm tiểu cầu-low platelet). Đây là những bệnh lý có liên quan chặt chẽ đến những tháng cuối của thời kỳ có thai, có thể tồn tại song song cùng chứng tiền sản giật, sản giật hoặc nhiều khi rất khó phân biệt về mặt triệu chứng giữa hai bệnh này. Các nguyên nhân này gây suy thận cấp ở thai phụ với tiên lượng rất xấu. Một nguyên nhân nữa gây tắc vi mạch thận là tắc mạch ối. Đây có thể nói là một nỗi kinh hoàng cho cả bệnh nhân lẫn thầy thuốc do tỷ lệ tử vong rất cao. Tắc mạch ối gây suy tuần hoàn cấp theo cả hai cơ chế kiểm sốc phản vệ và sốc tắc nghẽn (tắc mạch phổi) với bệnh cảnh có hội chứng đông máu nội quản rải rác (DIC) nên gây tổn thương thận cấp. Hoại tử ống thận, vỏ thận cấp là hậu quả của những sang chấn bánh rau, tử cung khi đẻ, thai chết lưu hay tắc mạch ối cũng là nguyên nhân gây suy thận cấp ở thai phụ. Cuối cùng, suy thận cấp sau sinh chưa rõ nguyên nhân (postpartum idiopathic acute renal failure) cũng gặp ở một số phụ nữ với đặc điểm suy thận xuất hiện ngay sau sinh mà không tìm được nguyên nhân cụ thể.
Nhiễm khuẩn đường tiết niệu cũng là nguyên nhân có thể làm xuất hiện suy thận cấp ở thai phụ khi bệnh lý nhiễm khuẩn làm giảm tưới máu thận và hoại tử ống thận cấp. Đài bể thận là vị trí hay bị nhiễm khuẩn nhất ở thai phụ với tỷ lệ cao gây suy thận cấp. Các biểu hiện chính của nhiễm khuẩn đài bể thận bao gồm sốt cao, tiểu buốt, tiểu rắt, tiểu máu hoặc có mủ. Cấy nước tiểu hoặc cấy máu có thể thấy vi khuẩn gây bệnh. Khi có thai, có nhiều yếu tố khiến cho thai phụ dễ bị nhiễm khuẩn ngược dòng như niệu quản bị thai chèn ép hoặc bị giãn, giảm nhu động; bàng quang cũng giảm trương lực, ứ đọng nước tiểu. Các vi khuẩn hay gặp là E.coli, trực khuẩn mủ xanh, klebsiella pneumoniae, cầu khuẩn đường ruột…
Trong thời kỳ có thai, với sự lớn dần lên của thai nhi sẽ gây một sự chèn ép đáng kể lên hệ thống thận - tiết niệu, nhất là niệu quản, bàng quang khiến cho nhiều trường hợp lưu thông nước tiểu từ bể thận xuống bàng quang bị cản trở. Từ đó, nước tiểu sẽ bị ứ lại gây giãn và tăng áp lực đài bể thận làm giảm mức lọc cầu thận và tiến triển dần lên suy thận. Yếu tố tắc nghẽn kéo dài luôn kèm theo có nhiễm khuẩn, vì vậy làm tăng nguy cơ tổn thương thận. Tắc nghẽn cũng có thể do sỏi tiết niệu đã có từ trước, gia tăng kích thước gây bít tắc trong thời kỳ có thai và sự tắc nghẽn này có thêm đóng góp của thai nhi.
Phòng tránh được không?
Để phòng tránh suy thận cấp ở phụ nữ có thai, nhất thiết phải kiểm tra sức khỏe thật tốt trước khi quyết định có thai. Trong quá trình mang thai, thai phụ phải được theo dõi thăm khám sức khỏe thường xuyên cho cả mẹ và con: theo dõi huyết áp, phù chi dưới, chức năng gan, thận, protein niệu. Phòng tránh nhiễm khuẩn hệ tiết niệu, phòng và điều trị tốt những tai biến sản khoa khi sinh nở...
TS.BS. VŨ ĐỨC ĐỊNH
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
Sinh mổ và những nguy cơ
Tỉ lệ sinh mổ ngày càng gia tăng. Vậy nhưng theo BS. Nguyễn Minh Châu - Phòng khám Đa khoa D-CLINIC, một nghiên cứu tại BV Hùng Vương, cho thấy chỉ có 19,5% số thai phụ biết sinh mổ có ảnh hưởng không tốt cho thai nhi. Mổ lấy thai có liên quan với sự gia tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong ở mẹ. Hiểu được những nguy cơ sinh mổ, thai phụ sẽ tránh đưa ra các yêu cầu mổ lấy thai không theo chỉ định.
Xin được sinh mổ
“Đau như đau đẻ”, câu nói đó cứ ám ảnh chị N.H.V trong suốt quá trình mang thai đứa con đầu lòng. Quá sợ đau nên chị V. đã chủ động gặp bác sĩ sản khoa xin được sinh mổ. Còn chị H.T.N lại xin bác sĩ được mổ vì lý do: “Cách đây 2 năm khi chị gái tôi sinh, do chị sinh tại phòng sinh gia đình nên tôi đã vào phòng sinh cùng chị. Chứng kiến thời khắc chị lâm bồn, tim tôi như ngừng đập. Sức rặn của chị không tốt nên ngoài bác sĩ đỡ sinh còn có tới 3 điều dưỡng khác hỗ trợ chị. Mỗi lần chị rặn sinh là có tới 2 điều dưỡng đè lên bụng chị để giúp sinh được em bé. Vậy mà cuối cùng cũng phải nhờ tới dụng cụ hỗ trợ sinh thì chị tôi mới sinh được con. Thấy chị đau đẻ, tôi thương đứt ruột. Và tôi thật sự hoảng sợ khi thấy chị rặn mãi nhưng vẫn không sinh được. Tôi nghĩ dại: nếu đầu em bé đã ra ngoài mà chị đuối sức không rặn được nữa thì phải làm sao. Tôi rùng mình không dám nghĩ tiếp. Vì sự ám ảnh đó nên bây giờ tôi chủ động xin bác sĩ sinh mổ để an toàn cho em bé”.
Riêng với chị N.T.A, dù biết rõ sinh thường sẽ tốt hơn cho cả mẹ lẫn con, nhưng chị vẫn phải xin bác sĩ sinh mổ vì yêu cầu của gia đình. Chồng chị A. là con trai một, gia đình lại rất khá giả. Nên ngay khi vừa về làm dâu, chị đã được mẹ chồng dẫn đi nhờ thầy xem tháng nào sinh được con trai. Khi chị mang bầu mới được 4 tháng, bố mẹ chồng chị đã đi xem ngày, giờ để cháu đích tôn chào đời. Và dĩ nhiên, để sinh con đúng theo ý muốn của gia đình, chị A. không còn cách nào khác là phải “năn nỉ” bác sĩ cho được sinh mổ.
Sinh đẻ là một quá trình sinh lý bình thường của người phụ nữ mang thai. Sản phụ có thể sinh thường theo ngả âm đạo hoặc mổ lấy thai khi có chỉ định về phía mẹ hoặc bé. BS. Nguyễn Minh Châu cho biết, mổ lấy thai không phải là thủ thuật vô hại. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, tỉ lệ sinh mổ lấy thai tốt nhất là dưới 15%, vượt trên mức này thì tai biến sẽ xảy ra nhiều hơn cho mẹ và con. Theo báo cáo của Viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ năm 1996, tỉ lệ mổ lấy thai tại Hoa Kỳ chỉ có 21%, nhưng đến năm 2011 tỉ lệ này là 32,8%. Tại Việt Nam, theo thống kê của Bệnh viện Hùng Vương, từ năm 1995 - 2011, tỉ lệ mổ lấy thai tăng từ 17,1 - 42,8%.
Nhiều thai phụ thích được sinh mổ. ảnh minh họa.
Rất ít phụ nữ hiểu đúng về sinh mổ
Lý giải sự gia tăng tỉ lệ mổ lấy thai, theo BS. Minh Châu, bên cạnh các ca sinh mổ có chỉ định của bác sĩ, càng ngày càng nhiều phụ nữ yêu cầu mổ lấy thai mà không vì lí do y khoa. Lý do chọn sinh mổ vì sự an toàn cho bé được các thai phụ đặt lên hàng đầu. Còn một số thai phụ là để tránh đau khi chuyển dạ sinh và chọn thời điểm sinh (theo tử vi). So với nhóm từ 20 - 30 tuổi, thai phụ trên 30 tuổi và dưới 20 tuổi lựa chọn sinh mổ nhiều hơn với tỉ lệ tương ứng là 40,7 và 43,7%. Thai phụ làm nội trợ có tỉ lệ lựa chọn sinh mổ cao nhất, kế đến là các thai phụ làm công tác văn phòng. Thai phụ là công nhân có tỉ lệ lựa chọn sinh mổ thấp nhất. Lý do phụ nữ giới văn phòng muốn mổ là vì sợ đau khi chuyển dạ và không tự tin bản thân có thể sinh thường được. Nhưng với giới lao động lại muốn sinh thường vì chi phí sinh mổ cao, thời gian nằm viện và phục hồi sức khỏe chậm khiến họ dễ có nguy cơ mất việc.
Đáng báo động là kiến thức đúng chung và thái độ đúng chung của thai phụ về sinh mổ là rất thấp. Có 3,7 người có kiến thức đúng chung về sinh mổ, 11,6% có thái độ đúng chung về sinh mổ. Đặc biệt, là chỉ 19,5% biết biết sinh mổ ảnh hưởng không tốt cho thai nhi và rất ít thai phụ biết sinh mổ có thể gây tử vong cho bản thân và em bé.
Theo BS. Châu, nhiều người lầm tưởng mổ lấy thai là an toàn tuyệt đối, nhưng thực tế tỉ lệ mẹ tử vong cao hơn sinh thường. Việc mổ lấy thai có nguy cơ tai biến do gây tê, mê, do chảy máu, nhiễm trùng, nhau cài răng lược, tai biến trong khi phẫu thuật như: tổn thương bàng quang, rách thêm vết mổ tử cung, tổn thương đường tiết niệu…Ngoài ra, sẹo mổ trên tử cung có thể bị nứt trong những thai kỳ sau, nếu không xử lý kịp thời sẽ tử vong cả mẹ lẫn con, nhất là hai lần mang thai quá gần.
Một vấn đề không kém phần quan trọng là so với sinh thường, thời gian nằm viện của sản phụ mổ lấy thai sẽ dài hơn, tốn kém nhiều hơn, đau đớn hơn, sự chăm sóc và cho con bú cũng bị ảnh hưởng. Việc mổ lấy thai là nguyên nhân của những tai biến khác đối với trẻ như: dao mổ chạm vào thai nhi (1 - 9%). Trẻ sinh non tăng do muốn mổ sinh theo ngày. Bên cạnh đó, trẻ sinh mổ giảm khả năng miễn dịch hơn trẻ sinh thường. Để đảm bảo sức khỏe của mẹ và con, không nên lạm dụng mổ lấy thai. Chỉ nên sử dụng khi cuộc sinh ngả âm đạo có nguy cơ ảnh hưởng đến mẹ và con.
NGUYỄN HUYỀN
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317
9 rắc rối về kinh nguyệt có thể bạn chưa biết
1. Trọng lượng cơ thể ảnh hưởng đến chu kỳ của bạn
“Một số phụ nữ không biết rằng khi chất béo cơ thể của họ giảm xuống dưới 8-12 % chu kỳ của họ sẽ dừng lại” Gina Keatley, một chuyên gia dinh dưỡng và và nấu ăn trên truyền hình nói. Điều này là do các tế bào mỡ sản sinh ra 1/3 lượng estrogen ở phụ nữ, và nếu không có lượng estrogen này, cơ thể sẽ ngừng kinh nguyệt. Chế độ ăn ít calo và không đủ dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến kinh nguyệt của bạn.
2. Chu kỳ quá thường xuyên dẫn đến thiếu sắt
Hầu hết phụ nữ không bổ sung đủ chất sắt từ chế độ ăn uống để theo kịp với lượng máu mất mỗi tháng. Việc bổ sung sắt là một phần quan trọng trong chế độ ăn uống, bác sĩ Arielle Levitan, đồng sáng lập của trang web Vous Vitamin cho biết.
3. Ngày trước khi chu kỳ giống với dấu hiệu mang thai
Cơ thể thực sự chuẩn bị cho việc mang thai trong thời gian này, do đó cơ thể tiết ra kích thích tố, cụ thể là progesterone, gây ra các triệu chứng tương tự như mang thai, chẳng hạn như giữ nước, đau ngực, cảm giác đầy bụng và mụn trứng cá, tiến sĩ Levitan nói.
4. Khi bạn mất kinh đột ngột
Sự mất kinh đột ngột từ 3 chu kì trở lên gọi là vô kinh. Điều này có thể là do giải phẫu bất thường hoặc các vấn đề sinh lý như căng thẳng hoặc rối loạn hormone, tiến sĩ Amy B. Hollingsworth, điều phối viên phòng thí nghiệm sinh học khoa học tự nhiên tại Đại học Akron cho biết. Nếu không có kinh trong hơn 3 tháng, bạn nên đến gặp bác sĩ.
6. Đau đớn có thể là vấn đề
Cảm giác đau đớn trong chu kỳ là không bình thường. Đau đớn có n ghĩa có vấn đề gì đó xảy ra trong cơ thể bạn, ví dụ như estrogen cao. Bạn cũng nên tìm hiểu xem nguyên nhân gây đau ở tử cung, như một khối u hoặc u nang, tiến sĩ Jennifer Burns của Trung tâm Bienetre ở Phoenix, Arizona nói.
7. Thèm đồ ngọt không chỉ là hội chứng tiền kinh nguyệt
Thèm đường hoặc thèm carbonhydrate có thể là một dấu hiệu cho thấy bạn đang thiếu progesterone. Progesterone giúp điều hòa lượng đường trong máu. Bạn nên đi xét nghiệm máu và nghe lời chỉ dẫn của bác sĩ.
8. Kinh nguyệt ra nhiều là một vấn đề
Điều này có thể là dấu hiệu của nồng độ estrogen cao. Estrogen có tác dụng làm tử cung co bóp, tống xuất kinh nguyệt. Bạn nên đến gặp bác sĩ và kiểm tra lượng hormone trong cơ thể. Có một số cách làm giảm lượng estrogen xuống hoặc làm estrogen hoạt động hiệu quả hơn.
9. Đau lưng nói lên rất nhiều điều
Có rất nhiều phụ nữ bị đau lưng khi đến tháng. Điều này có thể là dấu hiệu của estrogen cao. Một lần nữa bạn nên gặp bác sĩ để kiểm hàm lượng hormone trong cơ thể.
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ

Gọi cho chúng tôi 0902233317


Thứ Năm, tháng 7 02, 2015
sống khỏe