Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2016

Sử dụng đúng cách que thử thai

Thử thai tại nhà (dùng que thử thai) là biện pháp nhằm phát hiện hCG trong nước tiểu. Đây là hocmon đầu tiên có mặt sau khi trứng thụ tinh nằm trong tử cung (khoảng 6 ngày sau thụ tinh).
Thử thai tại nhà (dùng que thử thai) là biện pháp nhằm phát hiện hCG trong nước tiểu. Đây là hocmon đầu tiên có mặt sau khi trứng thụ tinh nằm trong tử cung (khoảng 6 ngày sau thụ tinh). Que thử thai được sử dụng đúng cách khi đảm bảo các yếu tố về nguồn gốc xuất xứ, que thử còn hạn sử dụng, sử dụng đúng hướng dẫn.
Tiến hành thử thai tại nhà
Bạn có thể dùng que thử thai vào bất kỳ thời gian nào trong ngày (sớm nhất là vài ngày sau khi bị chậm kinh) nhưng tốt nhất là lúc đi tiểu vào buổi sáng. Một số loại que thử nhạy cảm có thể phát hiện mang thai trước khi bạn có dấu hiệu chậm kinh nhưng kết quả có thể không chính xác. Tránh uống quá nhiều chất lỏng trước khi thử thai vì có thể làm loãng hocmon hCG trong nước tiểu.
Sử dụng đúng cách que thử thai sẽ có kết quả chính xác cao. Ảnh: TL
Độ chính xác cao
Các xét nghiệm thử thai tại nhà cho kết quả chính xác tới 97%. Chỉ có một số trường hợp que thử thai cho kết quả không chính xác trong tình huống thời gian sử dụng que thử thai chưa đạt đủ như yêu cầu (tối thiểu là 5 phút), sử dụng không đúng hướng dẫn, que thử thai giả hoặc hết hạn sử dụng... Nếu đã sử dụng que thử thai đúng hướng dẫn sử dụng và kiểm tra từ 2- 3 lần trở đi thì có thể tin tưởng vào kết quả đó. Nếu chưa thực sự tự tin vào cách thức thử thai và kết quả thử thai thì có thể mua que thử về và thử kiểm tra lại khả năng mang thai của mình. Cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và kiểm tra chất lượng của que thử thai trước khi dùng.
Ngoài ra, để xác định chính xác có thai hay không, bạn có thể đi siêu âm sau khi nhận thấy biểu hiện chậm kinh từ 1 tuần trở đi.
Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng trong thực tế, kinh nguyệt của bạn gái có thể đến sớm hơn hoặc chậm hơn so với dự kiến thông thường. Bởi một số yếu tố như chế độ sinh hoạt, thời tiết, tâm lý... có thể ảnh hưởng đến chu kì kinh nguyệt của bạn gái. Nếu bạn nhận thấy kinh nguyệt của mình thường xuyên không đều hoặc tiếp tục theo dõi mà bạn vẫn thấy kinh nguyệt chưa trở lại thì bạn cần đi khám tại các phòng khám phụ khoa để xác định nguyên nhân và có hướng xử trí thích hợp.
Sử dụng đúng cách que thử thai
Bước 1: Lấy nước tiểu vào trong cốc.
Bước 2:  Xé bao nhôm đựng que thử thai.
Bước 3:  Cầm que thử thai trên tay theo hướng mũi tên chỉ xuống
Bước 4:  Cắm que thử thai vào cốc đựng nước tiểu sao cho mặt nước tiểu không ngập quá mũi tên.
Bước 5: Chờ 5 phút bắt đầu đọc kết quả:
Sau 5 phút, lằn vạch ngang màu hồng sẽ hiện ra trên que thử thai báo hiệu cuộc thử nghiệm đã hoàn tất.
Nếu vạch hồng thứ hai hiện ra dưới vạch hồng đầu tiên, đó là kết quả bạn đã có thai. Nếu không có vạch hồng thứ hai hiện ra, bạn không có thai.

Bác sĩ Bùi Phương


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Khô âm đạo, nỗi buồn khó tỏ

Một trong những lo lắng của chị em mọi lứa tuổi là chứng khô âm đạo. Âm đạo bị khô là khi không tiết đủ chất nhờn để có độ trơn ướt mỗi khi quan hệ tình dục.
Một trong những lo lắng của chị em mọi lứa tuổi là chứng khô âm đạo. Âm đạo bị khô là khi không tiết đủ chất nhờn để có độ trơn ướt mỗi khi quan hệ tình dục. Khô âm đạo là triệu chứng không gây nguy hiểm cho phụ nữ nhưng nó lại gây nhiều khó chịu. Chứng khô âm đạo có thể cản trở tình dục, làm giảm khoái cảm, gây đau khi giao hợp cho cả hai người, khó đạt đỉnh khi quan hệ tình dục...
Đi tìm nguyên nhân: Khi được kích thích tình dục và quan hệ tình dục, âm đạo sẽ tiết dịch do những chi phối của hệ thần kinh và nội tiết. Tình trạng khô âm đạo sẽ xảy ra khi: đang bị viêm âm đạo (do vi khuẩn hay nấm) cũng gây khô âm đạo; việc dùng một số loại thuốc cũng có thể gây khô âm đạo như: thuốc chống sung huyết, thuốc kháng histamin; màn dạo đầu chưa đủ độ, tâm lý phụ nữ chưa sẵn sàng chưa đủ hưng phấn, âm đạo sẽ không tiết ra dịch nhờn, gây khó khăn trong việc giao hợp; khi chị em đang có bệnh của buồng trứng, buồng trứng đa nang cũng ảnh hưởng đến sự bài tiết hormon, thay đổi hoạt động của buồng trứng, góp phần làm khô âm đạo. Nhiều chị em bước vào tuổi tiền mãn kinh (thường ở độ tuổi ngoài 45), sự bài tiết estrogen giảm làm cho âm đạo ít bài tiết dịch nhờn dễ dẫn đến khô, lớp niêm mạc âm đạo sẽ mỏng, kém chun giãn và dễ bị tổn thương. Chứng khô âm đạo cũng có thể do cơ địa, một số phụ nữ, dù không có bệnh thực thể nhưng vẫn bị khô âm đạo. Việc thụt rửa âm đạo thường xuyên phá vỡ sự cân bằng ở môi trường âm đạo, có thể gây ra viêm âm đạo, vì thế có cảm giác khô khi giao hợp.
Hậu quả do khô âm đạo và cách khắc phục: Khô âm đạo sẽ cản trở quan hệ tình dục, gây đau, giảm khoái cảm, âm đạo dễ bị tổn thương và nhiễm khuẩn. Quan hệ tình dục hòa hợp cũng là cách để môi trường âm đạo bớt khô. Nếu thỉnh thoảng âm đạo bị khô khi quan hệ tình dục thì có thể là do người phụ nữ chưa đạt đến mức hưng phấn cần thiết, do đó cần trao đổi với bạn tình để cả hai cần có giai đoạn chuẩn bị tâm lý và cơ thể kỹ càng hơn. Chị em có thể bổ sung vào chế độ ăn nhiều sản phẩm làm từ đậu tương chứa nhiều chất isoflavone được coi là estrogen thực vật, tốt cho phụ nữ, có thể giúp giảm khô âm đạo. Đặc biệt trong mùa đông khô hanh, cơ thể mất nước nhiều hơn và mọi người cũng ngại uống nước hơn, khiến cơ thể ít tiết dịch hơn và âm đạo cũng khô hơn. Vì vậy, dù không khát, mọi người cũng cần uống đủ nước, để cơ thể tiết nhiều dịch hơn, giảm tình trạng khô âm đạo.
Để cải thiện tình trạng khô âm đạo, chị em có thể tham khảo ý kiến bác sĩ để dùng một vài loại gel bôi trơn. Nếu khô âm đạo cản trở tình dục nhiều hoặc gây viêm nhiễm tái đi tái lại, chị em nên đi khám phụ khoa để được tư vấn, không nên thử các cách chữa khô âm đạo không hợp lý như rửa bằng dung dịch dấm, sữa chua hay môi trường có vi khuẩn Lactobacilli vào âm đạo, hay xịt xà phòng, sữa tắm vào âm đạo. Các cách này sẽ khiến âm đạo bị tổn thương và càng khô hơn.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Vì sao cần cho bé bú ngay sau khi sinh?


Nuôi con bằng sữa mẹ (NCBSM) cần được hiểu như một vấn đề sức khoẻ cộng đồng, cần có một chiến lược thúc đẩy mạnh mẽ và mỗi bà mẹ khi sinh con đều có hiểu biết đúng, thực hành tốt về NCBSM sẽ là biện pháp nhằm tăng cường sức khoẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và bệnh tật ở trẻ.
Cho trẻ bú sớm có lợi ích gì?
Nhiều bà mẹ sau khi sinh chỉ thường cho con bú khi bầu sữa căng sữa, người ta quen gọi là “xuống sữa”, như vậy là không đúng vì chậm bú sau đẻ càng làm sữa xuống chậm và càng dễ bị mất sữa. Tốt nhất, ngay sau khi sinh trong vòng 1 giờ đầu mẹ nên cho trẻ bú để bé bú được sữa non. Sữa non được bài tiết trong vài ngày đầu sau đẻ. Sữa non có màu vàng nhạt, đặc sánh. Thành phần sữa non ngoài chất dinh duỡng có nhiều kháng thể (IgA), các tế bào bạch cầu có tác dụng bảo vệ cơ thể trẻ chống nhiễm khuẩn và dị ứng. Trong sữa non có các yếu tố phát triển giúp bộ máy tiêu hoá trưởng thành, chống dị ứng và không dung nạp các thức ăn khác. Sữa non có nhiều vitamin A phòng chống nhiễm khuẩn và bệnh khô mắt. Sữa non còn có tác dụng xổ nhẹ giúp cho việc tống phân su, đào thải bilirubin, làm trẻ  đỡ vàng da.
Hướng dẫn bà mẹ cho con bú đúng cách. Ảnh: PV
Trong 2 tuần lễ đầu, sữa mẹ chứa 4.000 bạch cầu trong 1ml sữa, những bạch cầu này tiết ra IgA, lactoferin, lysozym, những chất này ức chế hoạt động của một số virut. Sữa non giống như liều vaccin đầu tiên cho trẻ. Không gì có thể thay thế được sữa non. Không cần cho trẻ ăn bất cứ thứ gì khác như nước, mật ong… vì chúng có thể làm trẻ bị tiêu chảy và gây nguy hiểm cho trẻ.
Dạ dày của trẻ rất nhỏ nên trẻ nhanh no nếu ta cho trẻ uống các chất khác - khi đó trẻ không nhận được lợi ích từ sữa non nữa. Cho con bú sớm còn có tác dụng giúp cho  mẹ co hồi tử cung nhanh, tránh được băng huyết.
Khi cho con bú, bà mẹ bế trẻ ở tư thế thoải mái, để toàn thân trẻ sát vào người mẹ, miệng trẻ ngậm sâu vào quầng đen bao quanh núm vú, cằm tỳ vào vú mẹ, bú đúng sẽ giúp trẻ bú được nhiều sữa, mẹ không bị đau rát, nứt cổ gà, căng tức sữa.
Để trẻ mau lớn, mẹ đủ sữa, nên cho trẻ bú theo nhu cầu, không theo giờ giấc kể cả ban đêm vẫn cho trẻ bú nếu trẻ khóc đòi ăn. Sữa mẹ tiết theo cơ chế phản xạ, vì thế trẻ càng bú nhiều, mẹ càng tiết sữa nhiều. Nên cho bú hết từng bên để trẻ nhận được đầy đủ thành phần dinh dưỡng.
Bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu giúp trẻ khoẻ mạnh, phát triển tốt

NCBSM là biện pháp hiệu quả để phòng chống suy dinh dưỡng vì điều này có tác động lớn đến sức khoẻ trẻ, làm giảm 13% tử vong trẻ dưới 5 tuổi nếu được bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu. Trẻ được bú sớm trong vòng 1 giờ đầu sau sinh sẽ giảm được rủi ro mắc các bệnh mạn tính ở tuổi trưởng thành như tiểu đường, tăng huyết áp, tim mạch. Trẻ bú mẹ sẽ phát triển hài hoà cả về thể chất và tinh thần, phòng tránh được thừa cân béo phì. Tuy nhiên hiện nay (năm 2010) chỉ có 16,9% trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn 6 tháng đầu, mới có 76% số các bà mẹ cho con bú mẹ trong 1 giờ đầu sau sinh.
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, trẻ được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sau sinh sẽ khoẻ mạnh, phát triển hài hoà, ít mắc bệnh nhiễm khuẩn như viêm đường hô hấp, tiêu chảy và phòng được thiếu máu thiếu sắt, thiếu vitamin A. Để tận dụng nguồn sữa mẹ, các bà mẹ nên vắt sữa để lại nhà cho bé ăn, tranh thủ trưa về cho bé bú và tăng cường cho bé bú nhiều hơn nhất là vào ban đêm. Sữa mẹ nếu được vắt đúng cách, đảm bảo vệ sinh và bảo quản tốt (để nơi mát, ngâm cách thuỷ nước lạnh)  có thể cho trẻ ăn trong 4 - 12 giờ (để trong ngăn mát tủ lạnh). Bằng cách này khi các bà mẹ đi làm, trẻ vẫn nhận được đủ sữa mẹ đồng thời có thể duy trì cho con bú đến 18 - 24 tháng.
Cần làm gì để có đủ sữa?
Muốn có sữa cho con bú thì ngay trong thời kỳ có thai, mẹ cần được ăn uống đầy đủ các chất dinh dưỡng, có chế độ nghỉ ngơi, lao động hợp lý, tinh thần thoải mái, giúp người mẹ tăng cân tốt (10-12kg), đó là nguồn dự trữ mỡ để sản xuất sữa sau sinh. Khi cho con bú, điều trước tiên cần phải quan tâm là người mẹ phải kiên trì, tin tưởng vào việc NCBSM, luôn được gia đình, người thân, bạn bè quan tâm giúp đỡ, động viên khuyến khích tạo điều kiện để cho bú, nhất là khi đi làm trở lại.
Trong thời gian nuôi con, mẹ cần ăn đủ chất, uống đủ, ngủ đẫy giấc. Có chế độ ăn uống bồi dưỡng hơn bình thường, nên ăn thêm hoa quả chín để đủ vitamin. Chú ý uống nhiều nước (1,5 - 2 lít/ ngày). Nên hạn chế các thức ăn gia vị như ớt, hành, tỏi có thể qua sữa gây mùi khó chịu trẻ dễ bỏ bú. Khi cho con bú nên hạn chế dùng thuốc vì một số thuốc có thể qua sữa gây ngộ độc hoặc làm giảm bài tiết sữa.
Sự phân bố immunoglobulins và các chất hoà tan khác trong sữa non và sữa mẹ trong khoảng thời gian 24 giờ

Các chất hòa tan
<  tuần (mg/ngày)
1- 2 tuần(mg/ngày)
3- 4 tuần (mg/ngày)
> 4 tuần(mg/ngày)
IgG
50
25
25
10
IgA
5.000
1.000
1.000
1.000
IgM
70
30
15
10
Lysozym
50
60
60
100
Lactoferin
1.500
2.000
2.000
1.200
TS.BS. Cao Thị Hậu


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Vô kinh - Một nguyên nhân gây hiếm muộn

Trường hợp phụ nữ trong độ tuổi sinh sản nhưng lại không có kinh nguyệt bình thường như những người khác được gọi là vô kinh. Đây cũng là một trong những nguyên nhân gây hiếm muộn cần được khám và điều trị sớm.
Nguyên nhân và biểu hiện
Vô kinh có thể xảy ra do rối loạn hoạt động nội tiết, do bất thường, dị tật, khuyết tật của cơ thể hoặc của bộ phận sinh dục, đặc biệt ở buồng trứng, tử cung. Dấu hiệu cơ bản nhất là không có kinh nguyệt, ngoài ra có thể kèm theo các dấu hiệu như: dịch tiết âm đạo bất thường, đau đầu, rụng tóc, mọc nhiều lông trên mặt, giảm thị lực... Ở những người quá gầy yếu do suy dinh dưỡng, do thiếu máu, nhiễm độc, có bệnh gan, bệnh thận mạn tính; do dùng dài ngày các thuốc an thần, thuốc chuyển hóa hoặc thuốc chống ung thư; gặp những cú sốc lớn về tinh thần... cũng có thể gây vô kinh.
Người bệnh cần đi khám để có biện pháp điều trị phù hợp nếu có biểu hiện vô kinh.             Ảnh: MH
Vô kinh bao gồm: Vô kinh nguyên phát, đây là trường hợp đã quá tuổi đáng lẽ phải có kinh mà vẫn không có kinh; Vô kinh thứ phát là trường hợp người phụ nữ đã từng có kinh từ một lần trở lên nhưng lại không có trong 3 chu kỳ liên tục trở lên.
Ảnh hưởng đến chức năng sinh sản

Ở trường hợp vô kinh nguyên phát thì chắc chắn hoạt động của buồng trứng sẽ trục trặc, sự phóng noãn có thể diễn ra nhưng rất khó thụ thai. Còn trường hợp vô kinh thứ phát, hoạt động rụng trứng cũng không đều đặn, nên việc thụ thai cũng rất khó khăn. Do đó, vô kinh là nguyên nhân gây hiếm muộn, vô sinh.

Vô kinh còn được chia ra hai loại: Vô kinh thật là những trường hợp cơ quan sinh dục ngoài của người phụ nữ có cấu tạo như bình thường nhưng từ tuổi dậy thì đến lúc trưởng thành chưa bao giờ thấy kinh; Vô kinh giả khi người phụ nữ thực sự vẫn có kinh hàng tháng nhưng máu kinh không chảy được ra ngoài mà lại đọng ở bên trong do khuyết tật ở bộ phận sinh dục như không có âm đạo, màng trinh bị bịt kín...
Biện pháp khắc phục
Để phòng ngừa và điều trị vô kinh, trước tiên cần xây dựng và duy trì một lối sống lành mạnh vì điều này có ảnh hưởng lớn đến chu kỳ kinh nguyệt: Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, nhất là trong giai đoạn dậy thì; Tập thể dục đều đặn và vừa sức; Có chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp lý...
Vô kinh do nhiều nguyên nhân. Tuỳ từng nguyên nhân bác sĩ sẽ có biện pháp điều trị cụ thể. Do đó, khi thấy có bất thường về kinh nguyệt, người bệnh cần đến các cơ sở y tế chuyên khoa khám chẩn đoán chính xác nguyên nhân để có biện pháp điều trị phù hợp và hiệu quả.
Bác sĩ Thu Lan



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Lộ tuyến cổ tử cung có gây ung thư?

Nhiều chị em phụ nữ sau mỗi chu kỳ kinh nguyệt ra nhiều khí hư đi khám các bác sĩ kết luận bị viêm lộ tuyến cổ tử cung. Tình trạng lộ tuyến dễ tái phát khiến nhiều người lo lắng liệu có dẫn đến ung thư không?
Lộ tuyến là một tổn thương lành tính ở cổ tử cung, hay gặp ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, do các tế bào tuyến trong ống cổ tử cung phát triển lan ra phía ngoài.
Khi có biểu hiện ra khí hư nhiều hoặc nghi ngờ lộ tuyến cần đến cơ sở y tế để được điều trị.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng viêm lộ tuyến tử cung trong đó hay gặp do các nguyên nhân  như: Những người đã sinh đẻ là đối tượng dễ mắc phải, do cổ tử cung mở rộng sau quá trình vượt cạn. Những người có tổn thương sau một số thủ thuật nạo hút thai cũng có thể khiến tế bào bên trong mọc lan ra ngoài gây lộ tuyến cổ tử cung. Những người chưa sinh đẻ vẫn có khả năng lộ tuyến cổ tử cung do các biến động về nội tiết sinh dục nữ hoặc đôi khi không có lý do. Ngoài ra, ở một số phụ nữ, thay đổi PH môi trường âm đạo, quan hệ tình dục mạnh bạo... cũng là một nguyên nhân gây lộ tuyến.
Khi mắc biểu hiện thường thấy là ra nhiều khí hư, nếu bị nhiễm khuẩn thì khí hư sẽ có mủ và hôi. Lộ tuyến có thể làm giảm khả năng thụ thai ở người có bệnh, nhất là khi kèm theo viêm. Vì thế, phụ nữ hiếm muộn nếu bị lộ tuyến thì việc đầu tiên cần làm là điều trị dứt điểm.
Một số người bị lộ tuyến lâu ngày có thể xuất hiện tổn thương nghi ngờ, cần soi cổ tử cung và xét nghiệm phiến đồ âm đạo để phát hiện tế bào bất thường. Nếu có hình ảnh bất thường soi cổ tử cung cũng là một triệu chứng gợi ý để phát hiện ung thư cổ tử cung. Tuy vậy, có tổn thương nghi ngờ chưa chắc đã là ung thư.
Nếu chỉ lộ tuyến hoặc đã điều trị hết viêm thì có thể diệt liên bào tuyến bằng phương pháp đốt điện, đốt nhiệt hoặc áp lạnh nhưng không áp dụng hết cho tất cả các trường hợp lộ tuyến. Nhiều người thường hay sử dụng thuốc hoặc thảo dược tại nhà mà không hỏi ý kiến bác sĩ.  Trong khi đó, việc đặt thuốc không đúng càng làm rối loạn môi trường âm đạo, có thể gây ra bệnh do mất cân bằng vi khuẩn có lợi, tổn thương các mô bên trong.Vì vậy, viêm lộ tuyến khi nào cần phải điều trị, việc điều trị như thế nào, chỉ định đốt hay đặt thuốc phải tuân theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa. Đặc biệt trong thủ thuật đốt cần phải lưu ý tuân thủ việc tái khám, kiêng quan hệ tình dục theo sự hướng dẫn của bác sĩ cho từng trường hợp.
Sau khi điều trị, cần rửa vệ sinh bên ngoài, không ngâm, không thụt rửa bên trong âm đạo. Cần thực hiện tái khám theo đúng chỉ định của bác sĩ trực tiếp điều trị. Kiêng quan hệ tình dục trong thời gian điều trị cho đến khi lành hẳn. Thực hiện chế độ ăn uống đủ chất dinh dưỡng, không kiêng khem. Để tránh tái phát, cần vệ sinh phụ khoa đúng cách, chú ý giữ vệ sinh vùng kín vào những ngày có kinh nguyệt và sau khi quan hệ tình dục.


NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Sinh con lần đầu ở tuổi 25 - 35 sẽ có sức khỏe tốt nhất

 Kristi Willims, giáo sư tâm lý học tại Đại học bang Ohio (Mỹ), người đứng đầu nhóm nghiên cứu và các đồng nghiệp đã phát hiện ra rằng, những phụ nữ có con đầu tiên tuổi từ 25-35 có sức khỏe tốt hơn ở tuổi trung niên (40-60) so với những người làm mẹ lần đầu tiên ở tuổi 15-24.
Để đi đến phát hiện trên, nhóm nghiên cứu đã phân tích dữ liệu của 3.348 phụ nữ. Tất cả phụ nữ tham gia cuộc điều tra này đều có con đầu lòng ở tuổi 15-35 và hoàn thành câu hỏi về sức khỏe 1 hoặc 2 năm/lần trong giai đoạn 1979-2008 và so sánh theo nhóm những người làm mẹ lần đầu ở các độ tuổi 15-19, 20-24 và 25-35, đặc biệt tập trung vào bản tự báo cáo sức khỏe của họ khi vào tuổi 40 trở đi. Theo đó, những phụ nữ sinh con đầu lòng ở tuổi 25-35 có sức khỏe tốt hơn ở tuổi trung niên so với hai nhóm tuổi còn lại. Và hai nhóm còn lại có sức khỏe như nhau ở tuổi trung niên.
Tuổi có con đầu lòng không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của phụ nữ ở tuổi trung niên, mà nó cũng liên quan đến sức khỏe của đàn ông. Trong một nghiên cứu được thông tin đầu năm nay, Medical News Today cho biết, những đàn ông được làm cha trước tuổi 25 có thể có nguy cơ tử vong cao hơn ở tuổi trung niên so với những người có con muộn hơn.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

Chẩn đoán trước sinh và sơ sinh

Nhiều trường hợp, khi trẻ mới sinh ra đã có bệnh được gọi là bệnh bẩm sinh hoặc di truyền từ cha mẹ sang con cái. Trong đó, có một số bệnh lý có thể phát hiện ngay khi mới bắt đầu có thai hoặc lúc đứa trẻ được sinh ra.
Để phát hiện, chẩn đoán được bệnh bẩm sinh hoặc di truyền từ cha mẹ sang cho trẻ ngay từ khi mang thai hoặc lúc mới sinh ra, các nhà khoa học thường sử dụng các kỹ thuật xét nghiệm cần thiết; trong đó kỹ thuật hóa sinh và sinh học phân tử thực hiện khá phổ biến. Nếu phát hiện được bệnh của thai nhi ngay trong vòng từ 1 - 3 tháng đầu thai kỳ, có thể đưa ra lời khuyên với cha mẹ để xem xét có nên giữ lại thai nhi hay không hoặc nên chấm dứt thai kỳ. Nếu phát hiện được bệnh của trẻ ngay sau khi sinh, sẽ đưa ra các biện pháp điều trị thích hợp. Những giải pháp này là cách chủ động phòng bệnh tốt nhất cho trẻ.

Chẩn đoán bệnh trước sinh

Một số bệnh lý cần được lưu ý phát hiện, chẩn đoán đối với thai nhi trước khi sinh là hội chứng Down, khuyết tật ống thần kinh, loạn dưỡng cơ Duchenne, di truyền thiếu máu nặng Thalassemia. Việc chẩn đoán này là cơ sở để bác sĩ chủ động có lời khuyên đối với cha mẹ và gia đình xem xét thực hiện biện pháp xử trí phù hợp đối với thai nhi nhằm phòng tránh những di chứng hậu quả đáng tiếc về sau của bệnh lý gây nên.
Hội chứng Down: còn gọi là bệnh thừa nhiễm sắc thể 21, có nơi gọi là hội chứng Mongoloides hay bệnh Mông Cổ vì người bệnh có khuôn mặt giống người Mông Cổ. Đây là một trong những bệnh bẩm sinh thường hay gặp nhất và không chữa khỏi bệnh được. Tỉ lệ mắc bệnh cũng khá cao, theo thống kê ghi nhận có khoảng 1/700 trường hợp trẻ sinh ra bị mắc hội chứng này. Các nhà khoa học cho rằng càng có thai muộn thì tỉ lệ sinh ra con bị mắc hội chứng Down càng cao. Phụ nữ ở tuổi 35, tỉ lệ sinh con bị hội chứng Down là 1/385. Ở 45 tuổi thì tỉ lệ này có thể chiếm tới 1/30. Do đó phụ nữ có tiền sử sinh con bị hội chứng Down hoặc có thai khi đã 35 tuổi trở lên cần phải xét nghiệm máu tìm 3 yếu tố có liên quan là AFP (alpha fetoprotein), beta-hCG (human chorionic gonadotropin) và oestriol không liên hợp uE3 (unconjugated estriol) từ tuần có thai thứ 12 trở đi. Trong thời gian này nếu thấy khả năng thai nhi có thể bị mắc hội chứng Down rất cao thì việc muốn hủy thai hay chấm dứt thai kỳ sẽ không gặp nguy hiểm. Vào cuối năm 1999, các nhà khoa học đã phát hiện sự tăng lên rõ rệt lượng ADN (axít deoxyribonucleic) phôi thai trong máu người mẹ có con bị hội chứng Down tương lai bằng kỹ thuật sinh học phân tử PCR (polymerase chain reaction) ngay từ tuần thai thứ 7; vì vậy kỹ thuật này phát hiện được rất sớm nguy cơ thai nhi bị mắc hội chứng Down để có biện pháp xử trí phù hợp.
Khuyết tật ống thần kinh: khuyết tật này làm cho thai nhi không có não, nứt đốt sống (spina lifida). Có thể xét nghiệm máu những người mẹ có nguy cơ đã từng có con bị bệnh để phát hiện sớm khuyết tật ống thần kinh của thai nhi với kết quả xác định khá cao từ 80 - 90% các trường hợp chỉ bằng kỹ thuật xét nghiệm định lượng AFP (alpha  fetoprotein).
Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne: đây là một bệnh di truyền có tần suất cao với tỉ lệ 1/3.300 trường hợp người mẹ mang thai làm cho con trai mắc bệnh từ người mẹ mang gen bệnh. Vì vậy cần xét nghiệm định lượng men (enzym) và CK (creatin kinase) trong máu người mẹ khi có thai để có lời khuyên về bệnh di truyền cần thiết vì hiện nay bệnh này chưa chữa trị được hoặc nếu điều trị thì gặp rất nhiều khó khăn và thường bị thất bại.
Bệnh di truyền thiếu máu nặng Thalassemia: bệnh này rất phổ biến ở các nước trong khu vực Đông Nam Á và một số quốc gia khác với 2 thể bệnh là Alpha Thalassemia và Beta Thalassemia, trong đó có Việt Nam. Các nhà khoa học ghi nhận tần suất mắc bệnh Beta Thalassemia ở người dân tộc Kinh tại nước ta chiếm tỉ lệ từ 1,5 - 1,7% các trường hợp; trong khi đó ở dân tộc Mường thì tỉ lệ này có thể chiếm đến 25%. Bệnh có thể phát hiện, chẩn đoán trước khi sinh bằng kỹ thuật xét nghiệm hóa sinh và sinh học phân tử.
Trong tất cả trường hợp, 3 tiêu chuẩn chính để phát hiện, chẩn đoán nguy cơ thai nhi bị mắc bệnh trước khi sinh từ các sản phụ hay những người mẹ mang thai là: (i) bản thân hoặc gia đình có người đã sinh con mắc bệnh di truyền và bẩm sinh; (ii) có thai khi đã nhiều tuổi; (iii) đã bị sảy thai nhưng không rõ nguyên nhân.
Chan-doan-truoc-sinh-va-so-sinh

Chẩn đoán bệnh sau khi sinh

Mục đích của việc chẩn đoán bệnh sau khi sinh là phát hiện sớm một số bệnh lý của trẻ sơ sinh để có biện pháp điều trị thích hợp, làm hạn chế hoặc giảm mức độ bệnh lý của những bệnh bẩm sinh ngay từ khi trẻ mới ra đời bằng các kỹ thuật xét nghiệm phát hiện các bệnh như: rối loạn nội tiết, loạn dưỡng cơ Duchenne, viêm gan do virút. Gần đây các kỹ thuật xét nghiệm cũng được thực hiện để phát hiện các bệnh khác như: Phenylceton niệu gây chậm phát triển tinh thần nặng ở trẻ, bệnh Galactose huyết di truyền, bệnh Beta Thalassemia...
Bệnh rối loạn nội tiết: một trong các bệnh rối loạn nội tiết thường gặp là suy tuyến giáp trạng bẩm sinh với tần suất mắc bệnh từ 1/3.000 - 1/4.000 các trường hợp sinh tùy thuộc vào mỗi quốc gia và gây nên chứng đần độn sau này khi trẻ lớn lên. Vì vậy, phải phát hiện ngay khi trẻ mới sinh bằng xét nghiệm nội tiết tố TSH (thyroid stimulating hormone) trong máu ở dây rốn hoặc máu lấy ở gót chân trẻ và thường lấy máu xét nghiệm từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 5 sau khi sinh. Bệnh có thể điều trị có kết quả tốt nếu được phát hiện sớm. Việc sàng lọc bằng xét nghiệm nội tiết tố TSH thực hiện khá dễ dàng và ít tốn kém.
Bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne: đối với trường hợp nghi ngờ thai nhi mắc bệnh loạn dưỡng này nhưng vẫn cứ để trẻ được sinh ra mà không hủy thai hay chấm dứt thai kỳ, cần xét nghiệm CK (creatin kinase) trong máu dây rốn hay lấy máu ở gót chân trẻ trai để định lượng. Nếu trẻ trai bị mắc bệnh này thì ghi nhận hoạt độ CK cao, tăng gấp từ 10 - 30 lần so với mức bình thường.
Bệnh viêm gan virút: khi xét nghiệm máu người mẹ phát hiện có kháng nguyên viêm gan virút B (HBsAg) thì đứa trẻ mới sinh ra cũng cần phải được xét nghiệm máu tìm kháng nguyên HBsAg, HBeAg. Nếu trường hợp người mẹ bị nhiễm HIV, cũng phải xét nghiệm bắt buộc phát hiện HIV cho con mới sinh.
Bệnh Phenylceton niệu (Phenylketonuria): thường gây ra bệnh lý chậm phát triển tinh thần nặng ở trẻ. Dùng thử nghiệm Guthrie với máu mao mạch của trẻ, thực hiện 48 giờ sau khi cho trẻ bú sữa. Nếu sau 4 - 6 tuần, có thể dùng que thử để xác định. Bệnh lý có thể điều trị có kết quả bằng áp dụng chế độ ăn phù hợp.
Bệnh Galactose huyết di truyền (Galactosemia): ngay sau khi trẻ mới sinh ra, cần thấm máu dây rốn vào giấy lọc và đem xét nghiệm. Có thể điều trị bệnh cho trẻ bằng chế độ ăn không có galactose sẽ cải thiện được rất nhiều tình trạng bệnh lý của trẻ. Nếu không điều trị thì chỉ trong vài ngày sau khi đã bú sữa, trẻ bắt đầu có triệu chứng nôn, bỏ bú, chán ăn, vàng da, gan to, phù thũng...
Bệnh di truyền thiếu máu nặng Beta-Thalassemia: có thể phát hiện bệnh lý này ở trẻ sau khi sinh bằng kỹ thuật xét nghiệm hóa sinh như: điện di huyết cầu tố và cả sinh học phân tử khi cần thiết.



NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
NHẬN TẶNG VÀ MUA QUẦN ÁO CŨ
Gọi cho chúng tôi 0902233317

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons