This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Năm, 31 tháng 7, 2014
Kỹ thuật mới điều trị sa sinh dục
Theo thống kê chưa đầy đủ, ở Việt Nam có khoảng 5 - 10% phụ nữ từ 40 - 60 tuổi mắc bệnh són tiểu, sa sinh dục, cá biệt cũng có phụ nữ trẻ ở độ đuổi 25 - 30. Sa sinh dục, són tiểu là những bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng lại ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt, lao động của phụ nữ. Nhiều phụ nữ bị mắc căn bệnh này thường không biết chữa ở đâu và tâm lý hay ngại ngùng, giấu bệnh, đặc biệt họ gặp rắc rối trong quan hệ vợ chồng.
Hầu hết những người mắc những căn bệnh này có tâm lý e ngại, xấu hổ nên thường giấu kín và âm thầm chịu đựng, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống sinh hoạt thường ngày, nhiều người bệnh không dám ngồi xe lâu, không dám uống nhiều nước, đặc biệt là gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt vợ chồng. Trước đây, để điều trị bệnh sa sinh dục thường áp dụng phương pháp phẫu thuật Crossen tức là cắt tử cung đường âm đạo, khâu treo bàng quang, làm lại thành trước và sau âm đạo hoặc phẫu thuật Lefort tức là khâu bịt âm đạo. Vì vậy, khi điều trị sa sinh dục bằng những phương pháp này cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt “chuyện yêu” của người phụ nữ.
Được biết, mới đây Bộ Y tế đã ký quyết định thành lập Trung tâm Phẫu thuật sàn chậu thuộc Bệnh viện Phụ sản TW. Đây là trung tâm đầu ngành điều trị những bệnh lý liên quan đến vấn đề sa sinh dục và són tiểu cho phụ nữ. Đến nay, đã có 20 bệnh nhân được thực hiện kỹ thuật nội soi khâu treo mỏm cắt vào mỏm nhô thành công tại đây. Cũng theo TS. Quyết, phương pháp này sẽ khắc phục được nhược điểm của phương pháp cũ, đó là sẽ giữ tử cung cho người bệnh vì vậy những chức năng sinh lý như quan hệ vợ chồng hay mang thai sinh nở vẫn được đảm bảo. Đáng lưu ý, thời gian điều trị và nằm viện cho bệnh nhân bị sa sinh dục bằng phương pháp này chỉ khoảng 3 ngày, còn điều trị són tiểu chỉ trong vòng một ngày.
Nguyễn Hồng - Hoàng Hậu
Stress khi mang thai
Kinh nghiệm dân gian cho rằng tinh thần của người mẹ sẽ quyết định đến tính cách của trẻ. Nếu mẹ buồn, sau này con sẽ có tính cách trầm, hướng nội. Còn y học hiện đại đã chứng minh rằng nếu bà mẹ bị quá stress thì sau khi sinh ra trẻ sẽ có tỉ lệ bị rối loạn giấc ngủ, rối loạn hành vi.
Stress hay căng thẳng do nhiều nguyên nhân như: thất nghiệp, bất hòa trong gia đình, người thân bị bệnh nặng… Phụ nữ mang thai dễ bị stress hơn so với không mang thai, với nhiều biểu hiện khác nhau như buồn phiền, mất ngủ, chán ăn, không muốn giao tiếp… Có rất nhiều phản ứng phụ tiêu cực của stress trong quá trình mang thai.
Các nhà nghiên cứu phát hiện, áp lực stress khiến cho người mẹ ngủ không sâu và luôn trong tình trạng nửa ngủ nửa thức, thậm chí gặp ác mộng. Do đó, nếu khi gặp phải cần dùng đồ uống không chứa caffein và chất cồn trước khi ngủ sẽ giúp phòng ngừa tình trạng trên.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu gần 1,8 triệu trẻ được sinh ra ở Đan Mạch trong thời gian từ năm 1978 - 2008. Họ cố gắng tìm hiểu xem liệu có phải các dị tật tim bẩm sinh là những dị tật hay gặp hơn ở những đứa trẻ được sinh ra trong một nhóm đặc biệt gồm khoảng 45.000 phụ nữ. Những phụ nữ này bị mất đi bố mẹ, anh chị em ruột, con hay bạn đời trong khoảng thời gian thụ thai hoặc mang thai. Các nhà nghiên cứu phát hiện thấy những thai phụ này tăng nhẹ nguy cơ sinh con mang dị tật tim bẩm sinh so với thai phụ khác không bị stress. Vậy tại sao stress ở người mẹ lại gây ra dị tật bẩm sinh cho thai nhi? Các nhà nghiên cứu giải thích rằng thai phụ bị stress dễ làm những việc nguy hiểm tới đứa con ở trong bụng. Ví dụ như họ thay đổi thói quen ăn uống khiến cho chế độ ăn không lành mạnh, kém tốt cho thai nhi. Hơn nữa, stress ở mẹ cũng có thể làm thay đổi ADN của thai nhi. Tuy nghiên cứu phát hiện ra mối liên quan giữa tình trạng stress của thai phụ và nguy cơ mắc dị tật tim ở con, song vẫn chưa chứng minh được đây là mối quan hệ nhân quả.
LỜI KHUYÊN CỦA THẦY THUỐC
Trong giai đoạn thai kỳ, khi cảm thấy mệt mỏi, lại phải chịu đựng nhiều áp lực do công việc giải pháp hữu hiệu cho cả mẹ và thai nhi đó là hãy tìm cho mình một không gian thật yên tĩnh, thoải mái và tâm sự cùng con. Ví dụ như: “Con à, hiện tại mẹ đang rất buồn, rất mệt mỏi về chuyện...”, thông qua đó sẽ giảm stress và cũng giảm ảnh hưởng không tốt tới thai nhi.
|
Các bà mẹ trẻ bị stress trong thời gian “bầu bí” có thể khiến cho đứa trẻ sau này mắc bệnh hen suyễn và dị ứng. Kết quả này được các nhà nghiên cứu Mỹ công bố mới đây tại một cuộc hội thảo. Bác sĩ Rosalind Wright ở trường Y khoa Harvard cho rằng, các bà mẹ thường hay bị stress do vấn đề tài chính hoặc các mối quan hệ trong cuộc sống hằng ngày có thể làm tổn thương hệ miễn dịch đang phát triển của trẻ ngay trong giai đoạn thai kỳ.
BS. Wight và các cộng sự nhận thấy các bà mẹ ít bị stress trong thời gian mang thai có thể đưa đến cho con mức IgE (Immunoglobulin - IgE là loại hoóc-môn miễn dịch tổng hợp rất có lợi cho trẻ nhỏ) cao hơn, thậm chí người mẹ cũng ít có nguy cơ bị dị ứng trong thời gian mang thai. Các nhà nghiên cứu đã đo lượng IgE ở ở rốn của 387 đứa trẻ mới sinh ở Boston. BS. Wright khẳng định: “Stress có thể được xem như là một nhân tố ô nhiễm, ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch”.
BS. Andrea Danese, Đại học London, theo dõi 1.000 người ở New Zealand từ lúc sơ sinh cho đến tuổi 32 và nhận thấy rằng: những ai đã trải qua trạng thái stress trong thời thơ ấu, qua những sự rèn luyện khắc nghiệt hay bị lạm dụng tình dục, tính khí của họ khi ở tuổi 20 dễ bị kích động gấp đôi so với những người bình thường khác. Sự kích động này được cho là phản ứng của protein và các tế bào miễn dịch, làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và đái tháo đường.
Đã có nhiều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tâm lý bà mẹ đối với thai nhi. Chẳng hạn như nghiên cứu của Vijai P. Sharma về stress trong thai kỳ ảnh hưởng đến trẻ như thế nào, qua nghiên cứu ông kết luận stress trong suốt thời gian mang thai có thể ảnh hưởng khá lớn đến nồng độ nội tiết của người mẹ dẫn đến giảm dưỡng chất được cung cấp cho thai qua nhau, từ đó ảnh hưởng đáng kể đến các cơ quan trọng yếu của thai nhi như: gan, tim, thận, não và ảnh hưởng đến sự phát triển tinh thần của trẻ về sau.
Theo Ian Spencer, stress có thể gây sảy thai, sinh non hoặc thai chậm phát triển. Hậu quả của stress trên thai kỳ đã được chứng minh có thể là sảy thai, thai dị tật bẩm sinh. Tăng nguy cơ sinh non. Thai chậm phát triển trong tử cung. Mẹ tăng nhịp tim. Tăng huyết áp trên thai phụ, có nguy cơ dẫn đến tình trạng tiền sàn giật - sản giật. Ngay ở giai đoạn hậu sản, người mẹ dễ bị trầm cảm sau sinh.
Stress thường ảnh hưởng nhiều nhất trong 3 tháng đầu thai kỳ, đây là giai đoạn hình thành và hoàn thiện các cơ quan, tuy nhiên stress cũng có thể ảnh hưởng đến suốt thai kỳ.
Hay những kết quả nghiên cứu khác còn cho thấy mẹ bị stress trong 3 tháng đầu của thai kỳ tăng nguy cơ có nồng độ sắt thấp, dẫn đến chậm phát triển về thể chất và trí tuệ cho thai. Theo một nghiên cứu được trình bày tại hội nghị thường niên của Hội nghiên cứu Nhi khoa Hoa Kỳ tại Boston thì những trẻ sơ sinh có mẹ bị stress trong 3 tháng đầu của thai kỳ tăng nguy cơ có nồng độ sắt thấp, dẫn đến chậm phát triển về thể chất và trí tuệ. Sắt đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển các hệ cơ quan, đặc biệt là não bộ. Các yếu tố nguy cơ dẫn tới nồng độ sắt thấp ở trẻ sơ sinh là do thiếu hụt sắt ở người mẹ, mẹ mắc bệnh đái tháo đường, mẹ hút thuốc lá trong thời kỳ mang thai, sinh non, sinh con nhẹ cân và đa thai.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng phụ nữ có ý định sinh con nên bổ sung sắt 12 tháng trước khi mang thai, đặc biệt là ở nhóm có nguy cơ cao. Nhờ vậy thiếu sắt (có hoặc không có thiếu máu) có thể được phát hiện sớm và điều trị trước khi trở thành mạn tính và nghiêm trọng.
Để cải thiện hiện tượng stress trên, tiến sĩ Siobhan Dolan, một chuyên gia tâm lý học, khuyên: cần ăn uống điều độ đầy đủ chất dinh dưỡng và uống nhiều nước. Ăn uống cũng sẽ cung cấp sẽ cung cấp đủ năng lượng cần thiết để có thể đối phó với stress, đặc biệt là khi cảm thấy mệt mỏi hoặc quá sức. Nghỉ ngơi đầy đủ và khi cảm thấy mệt mỏi. Chú ý phòng ngủ yên tĩnh, tránh tiếng ồn. Có thể tắm mát trước ngủ, không nên ăn trong vòng 1 giờ trước khi ngủ. Không hút thuốc, không uống rượu, không dùng thuốc gây nghiện. Tập thể dục thường xuyên, tập thể dục các môn thích ứng với tình trạng sức khỏe, có sự tư vấn của chuyên gia thể dục. Với sự tập luyện cơ thể thường xuyên giúp cho cơ thể khỏe mạnh, làm việc tốt hơn và giảm stress. Hoặc thư giãn bằng cách nghe nhạc, du lịch, xem kịch hài, sẽ làm cho phấn chấn và vui vẻ để vượt qua cơn stress.… Tránh xa những yếu tố gây stress nếu có thể được, cụ thể là tránh những tình huống hoặc những người có khả năng gây stress cho mình. Chia sẻ với người thân, bạn bè, nếu cảm thấy khó nói thì có thể đến với chuyên gia tâm lý, cha nhà thờ. Việc giao tiếp thường xuyên và cởi mở với người khác giúp cảm thấy tự tin hơn để đối phó với các thách thức hàng ngày. Làm giảm khối lượng công việc hằng ngày. Nếu như đang phải làm việc quá nhiều trong một ngày, hãy chia sẻ nhiệm vụ cho những người khác cùng làm. Cần khám thai tại các cơ sở có đầy đủ phương tiện để chăm sóc tiền sản, đảm bảo thai kỳ được tiến triển tốt.
BS. HOÀNG XUÂN ĐẠI
Sốt ở phụ nữ mang thai
Khi mang thai, cơ thể của người phụ nữ có sức đề kháng rất kém. Điều này dẫn đến việc thai phụ dễ nhiễm các loại bệnh như: Cảm cúm, ho, sổ mũi, và sốt. Theo ước tính sốt khi mang thai gặp khoảng 15% các trường hợp, nhiều bà mẹ quá lo lắng và không biết hệ lụy của vấn đề trên.
Nguyên nhân nào gây nên sốt?
Thông thường sốt là một phản ứng của cơ thể với một quá trình bệnh lý. Nhiệt độ cơ thể sẽ tăng hơn so với bình thường (trên 37 độ C), ngay cả lúc nghỉ ngơi ở môi trường bình thường được gọi là sốt. Có rất nhiều nguyên nhân gây sốt trong đó thường gặp là nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virut, ký sinh trùng…) xâm nhập vào cơ thể đường tiểu, hô hấp, tiêu hoá hoặc đường máu…
… và những ảnh hưởng
Tuỳ theo nguyên nhân gây sốt và mức độ sốt cao hoặc thấp có thể nguy hiểm đến mẹ và con. Nếu ở mức độ nhẹ (hơi sốt 37,5 độ) có thể không hoặc ít khi ảnh hưởng đến thai nhi, nhưng sốt kéo dài và sốt cao (38 độ trở lên) thì sẽ ảnh hưởng đến thai nhi và mẹ như: sảy thai, đẻ non, nhiễm khuẩn huyết thai kỳ, thai chết lưu, hoặc để lại di chứng về sau cho bé… Tuy nhiên, điều này còn phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cơ địa của người mẹ.
Cần làm gì?
Đối với người bình thường, việc điều trị sẽ đơn giản do không có nhiều nguy cơ. Nhưng đối với thai phụ khi bị sốt nếu dùng thuốc không đúng mục đích (ngay cả thuốc Đông y) cũng có thể làm ảnh hưởng đến thai nhi. Vì vậy, nếu nghi ngờ sốt thai phụ cần nhanh chóng biết chính xác nhiệt độ cơ thể khi sốt là bao nhiêu. Nếu sốt cần đến ngay cơ sở y tế để được khám và điều trị. Tuyệt đối không được tự ý dùng thuốc khi chưa có chỉ định của bác sĩ.
Có thể phòng tránh
Việc phòng tránh lây nhiễm các bệnh đối với phụ nữ mang thai là vô cùng quan trọng.
Về mùa đông cần giữ ấm tránh để nhiễm lạnh. Mùa hè tránh ra nắng gắt giữa trưa sẽ cảm nắng. Giữ vệ sinh cá nhân tốt. Trong quá trình chăn nuôi thai phụ tránh tiếp xúc trực tiếp với gia súc, gia cầm nghi ngờ mắc bệnh. Không ăn các thức ăn không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tránh gây ngộ độc, lây bệnh từ gia cầm, gia súc...
Ngoài ra, thai phụ cần khám thai đúng lịch để phát hiện những bất thường đảm bảo an toàn cho cả mẹ và thai nhi.
Bác sĩ Thủy Ngân
Tại sao thai phụ dễ mắc bệnh trĩ?
Bệnh trĩ là bệnh của vùng hậu môn trực tràng có tỷ lệ người mắc khá cao, nữ nhiều hơn nam. Theo TS. Nguyễn Mạnh Nhâm, Chủ tịch Hội hậu môn trực tràng, cho biết, tỷ lệ mắc trĩ ở nước ta hiện nay lên tới 35-50%. Theo một nghiên cứu mới đây của Hội ở các tỉnh phía Bắc, có tới 55% dân số mắc trĩ. Vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì vậy, việc phòng bệnh là vô cùng quan trọng.
Nguyên nhân gây bệnh
Khi mang thai, theo từng giai đoạn thai nhi phát triển ngày càng to, nhất là ở thời kỳ cuối đè lên vùng bụng làm các mạch máu bị chèn ép, các tĩnh mạch ở tầng sinh môn và đáy chậu cũng bị chèn ép, khó lưu thông dẫn đến cương lên, tạo thành búi trĩ. Kèm theo đó, vấn đề táo bón ở phụ nữ mang thai thường xuyên xảy ra và kéo dài khiến thai phụ dễ mắc bệnh trĩ.
Mặt khác, trong quá trình sinh con, tử cung mở to, tăng áp lực khoang chậu, tụ máu sưng phù tĩnh mạch ở phần hậu môn. Cộng với việc rặn đẻ làm tăng áp lực lên ổ bụng, khiến búi trĩ dễ sa ra ngoài…
Phòng bệnh trĩ như thế nào?
Trước hết, trong quá tình mang thai cần tuân thủ chế độ dinh dưỡng hợp lý, nên ăn nhiều rau, củ, quả. Hạn chế ăn muối, đường, không sử dụng các thức ăn có chất kích thích… tránh để tình trạng táo bón kéo dài.
Uồng nhiều nước và nước hoa quả nhưng tránh uống trà hay cà phê vì chúng có thể làm bệnh nhân mất nước. Tập đi bộ thường xuyên và tập thể dục phù hợp. Điều này sẽ kích thích ruột, giúp khả năng tiêu hoá tốt hơn hạn chế táo bón.
Tránh ngồi quá lâu nhất là ngồi xổm, hoặc đứng trong thời gian dài sẽ làm tăng mức độ nặng của bệnh trĩ. Nếu công việc bắt buộc phải ngồi nhiều, mỗi giờ bạn nên đứng dậy và đi lại khoảng vài phút. Tại nhà, bạn nên nằm nghiêng về phía bên trái khi đi ngủ, nằm đọc sách hay xem tivi để giảm áp lực lên tĩnh mạch trực tràng và giúp tăng lưu thông máu từ nửa dưới cơ thể.
Tập thói quen đi vệ sinh mỗi ngày, không được nín, nhịn. Tránh tình trạng căng thẳng và ngồi đúng tư thế khi đi vệ sinh.
Bác sĩ Hải Hà
U xơ tử cung có nguy hiểm?
U xơ tử cung là khối u lành tính. Theo thời gian, khối u này càng trở nên dày đặc hơn, thường có hình tròn hoặc hơi tròn. Điều trị khối u như thế nào còn tùy thuộc vào kết quả chẩn đoán, diễn tiến bệnh.
Nguyên nhân cho đến nay vẫn chưa rõ. Tuy nhiên, sự phát triển của khối u xơ tử cung lại phụ thuộc phần lớn vào sự sản xuất nội tiết tố nữ như: estrogen. Tiền sử gia đình có người bị u xơ tử cung cũng là một yếu tố nguy cơ khác. Chủng tộc cũng giữ vai trò trong phát triển u xơ.
Nói chung, u xơ tử cung rất thường gặp, xảy ra ở 50% tất cả phụ nữ ở mọi lứa tuổi.
Triệu chứng của bệnh
Thường phụ nữ bị u xơ tử cung không triệu chứng. Tuy nhiên, u xơ có thể có gây ra nhiều triệu chứng tùy thuộc vào kích thước, vị trí của chúng bên trong tử cung và các cơ quan lân cận trong vùng chậu. U xơ tử cung lớn có thể chèn ép vùng chậu gây đau, chèn ép bàng quang gây kích thích đi tiểu hoặc bí tiểu, nếu chèn ép lên trực tràng có thể gây đau mỗi khi đi cầu. Nếu khối u nằm sát lớp nội mạc tử cung, hoặc làm trở ngại dòng máu đến nuôi tử cung có thể là nguyên nhân gây đau theo từng giai đoạn hay đau kéo dài hay giữa kỳ kinh. U xơ tử cung đôi khi gây ra đau trầm trọng, đau tại chỗ.
Nếu không điều trị có nguy hiểm không?
Trong một số trường hợp, nếu u xơ không gây triệu chứng gì thì không cần phải cắt bỏ. Nếu khối u tăng trưởng nhanh chóng cần phải theo dõi sát hơn nữa, vì có một số hóa thành ung thư, thường đó là những khối u phát triển quá nhanh, và nó không thể phân biệt được với những khối u lành tính nếu chỉ dựa trên siêu âm, MRI hay các chẩn đoán hình ảnh khác. Tuy nhiên, loại khối u này xảy ra với tỉ lệ khoảng ít hơn 1% trong số u xơ tử cung. Khi khối u tăng kích thước quá lớn cần phải cắt bỏ. Thường u xơ tử cung là nguyên nhân hay gây sảy thai. Trong trường hợp này, nếu u xơ không được cắt bỏ, người phụ nữ không thể có thai được.
Chẩn đoán như thế nào?
U xơ tử cung được chẩn đoán bằng khám vùng chậu và siêu âm. Thường khi khám thấy khối u vùng chậu đơn thuần không thể xác định được u xơ tử cung. Siêu âm giúp ích rất nhiều trong việc phân biệt u xơ tử cung với những u khác như u nang buồng trứng. Chụp MRI và CT-Scan cũng có thể đóng vai trò trong việc chẩn đoán u xơ tử cung, siêu âm là phương pháp đơn giản, rẻ tiền, không gây tác dụng phụ gì, là một kỹ thuật tốt nhất cho hình ảnh vùng chậu. Trong trường hợp khó xác định có u xơ bên trong tử cung hay không, lúc đó người ta thực hiện siêu âm qua ngả âm đạo. Trong phương pháp này, người ta bơm vào trong buồng tử cung một chất dịch qua lỗ cổ tử cung. Chất dịch này giúp cho buồng tử cung giãn ra, và như vậy giúp thấy được những khối bất thường bên trong lòng tử cung.
Điều trị ra sao?
Có một số phương pháp điều trị u xơ tử cung. Phương pháp phẫu thuật bao gồm cắt bỏ tử cung(có cả u xơ theo), hay phẫu thuật chỉ bóc tách lấy u xơ. Cắt bỏ u xơ có thể thực hiện qua đường rạch da ở thành bụng dưới. Một vài trung tâm y khoa hiện đại người ta dùng chùm tia laser rạch tạo thành một lỗ, có đầu dò làm lạnh (phẫu đông) và một số kỹ thuật phá hủy khác hiện nay không cắt bỏ mô, nhưng nó có thể làm phá hủy mô tại chỗ. Một trong những kỹ thuật cổ điển là làm tắc động mạch nuôi khối u xơ. Kỹ thuật này sử dụng cho những khối u nhỏ, giới hạn rõ, được gọi là kỹ thuật dùng polyvinyl alcohol, bằng cách tiêm chất này vào nhánh động mạch nuôi u xơ. Các mạch máu này bị tắc nghẽn, làm cho máu và chất dinh dưỡng đến u xơ bị ngưng trệ.
Mặc dù kỹ thuật này đang được sử dụng rộng rãi, nhưng nó vẫn có những thất bại và nguy cơ riêng. Ngày nay, phương pháp này thường không khuyến cáo sử dụng ở những phụ nữ mong muốn có con.
Phương pháp điều trị u xơ tử cung không mổ, thường dùng nội tiết tố thiên nhiên và bao gồm dùng thuốc giúp làm cắt đứt việc sản xuất estrogen từ hai buồng trứng (tương tự GnRH). Các thuốc này dùng trong vòng 3 - 6 tháng. Khi thành công, nó có thể làm cho u xơ tử cung giảm đi 50% kích thước. Khi ngưng điều trị, u xơ sẽ phát triển trở lại trong vòng vài tháng. Đôi khi, thuốc này phải được dùng liên tục trên 6 tháng cho những phụ nữ có giảm liều estrogen và progesterone để bảo vệ xương tránh loãng xương, vì loãng xương có thể xảy ra khi không có estrogen. Một số nội tiết tố khác có thể được sử dụng bao gồm Danazol và RU486. Mặc dù việc sử dụng thuốc ngừa thai uống đã làm đảo ngược được tình thế trên, với liều thấp trong công thức của thuốc ngừa thai, có thể được coi như là một lựa chọn để điều trị triệu chứng u xơ.
BS. NGUYỄN THU PHƯƠNG
Stress khi mang thai
Đối với phụ nữ mang thai, khả năng đáp ứng đối với những thay đổi về áp lực công việc, tình cảm, đời sống sẽ kém hơn nhiều so với người bình thường. Do đó, nguy cơ bị stress trong thai kỳ là rất lớn.
Stress là cách mà cơ thể chúng ta phản ứng lại một điều gì đó vượt ra khỏi giới hạn chịu đựng bình thường. Đối với người bình thường, stress tác động xấu đến sức khỏe về mọi mặt như thể chất, thần kinh, tâm lý… làm tăng nguy cơ dẫn đến các tình trạng bệnh lý như tăng huyết áp, trầm cảm và có thể làm nặng thêm những bệnh lý đang có sẵn.
Đối với phụ nữ mang thai rất cần môi trường sống và làm việc bình thường, không bị mệt mỏi, căng thẳng. Khi tâm lý và sức khoẻ bà mẹ ổn định thì sự phát triển của thai nhi sẽ tốt hơn nhiều. Tuy nhiên, nếu bà mẹ bị stress thường ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ thai nhi qua chế độ ăn uống nghỉ ngơi không được tốt của bà mẹ khi bị stress. Một số nghiên cứu cho thấy stress mức độ nặng ở phụ nữ mang thai có thể làm tăng nguy cơ sảy thai lên 3-4 lần hoặc đẻ non hoặc sinh con nhẹ cân lên gấp 2 lần. Ngoài ra, ở những phụ nữ mang thai bị stress, người ta đã tìm thất chất coticotrophin hormon (CRH) trong máu tăng cao; chất này cản trở sự chuyển chất dinh dưỡng và ôxy từ máu mẹ qua nhau thai để sang thai nhi.
Nếu thai phụ mắc những bệnh có thể gây ra stress hay trầm cảm thì cần được bác sĩ tư vấn và dùng thuốc điều trị theo chỉ định của bác sĩ. Hầu hết các thuốc được bác sĩ kê đơn cho thai phụ không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất ít đến thai nhi. Đa số bệnh lý trong thai kỳ nếu không được điều trị thì sẽ ảnh hưởng xấu đến thai kỳ hơn là những tác dụng phụ của việc điều trị gây ra. Bác sĩ sẽ cân nhắc cho thai phụ và tư vấn kỹ trước khi cho dùng thuốc. Sự hiểu biết và tâm lý an tâm sau khi được cung cấp đầy đủ thông tin là một trong những yếu tố quan trọng giúp bà mẹ không bị stress khi phải cần điều trị một bệnh lý nào đó trong thời gian mang thai.
Để phòng tránh và giảm stress, phụ nữ mang thai cần có chế độ dinh dưỡng, làm việc phù hợp, dành nhiều thời gian nghỉ ngơi để bảo vệ sức khỏe của bạn và em bé. Nếu cảm thấy lo lắng về một điều gì đó, thai phụ nên chia sẻ với người thân, bạn bè hoặc với chuyên gia về sức khỏe để được thoải mái hơn. Khám thai đầy đủ và dùng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Thai phụ nên chọn những bài tập thể dục an toàn, nhẹ nhàng trong thời gian mang thai theo sự hướng dẫn của bác sĩ để tăng cường sức khỏe, cải thiện tâm trạng mệt mỏi và căng thẳng.
Những nguyên nhân thường gặp gây sẩy thai
Sau mỗi lần sẩy thai, thai chết lưu hay thai đẻ ra chết, phụ nữ thường có nhiều băn khoăn: vì sao, làm gì để phòng ngừa, có phải do lỗi của mình, liệu có xảy ra nữa không? Rất tiếc là nguyên nhân sẩy thai thường khó tìm, đến cả thầy thuốc nhiều khi cũng không thể giải thích, nhất là với trường hợp sẩy thai sớm. Sau đây là một số nguyên nhân thường gặp, từ phổ biến nhất đến hiếm gặp nhất:
Bất thường về nhiễm sắc thể: Nếu là lần sẩy thai đầu tiên - cho dù đã từng có con trước đây hay là lần có thai đầu tiên thì cũng chỉ do sai lầm ngẫu nhiên của nhiễm sắc thể khi thai phát triển. Không thể dự đoán trước những sai lầm này và thường không tái phát ở lần thai nghén sau. Không thể phòng ngừa được nhưng may mắn là hầu hết những cặp vợ chồng bị sẩy thai lần đầu vì lý do này vẫn có thể có thai bình thường sau này.
Tử cung hay cổ tử cung có vấn đề: Làm giảm cơ may có thai bình thường. Bất thường về cấu trúc có thể bao gồm: có vách ngăn ở tử cung - tử cung có sẹo để lại từ lần mổ trước - hở eo cổ tử cung (cổ tử cung không đóng kín).
Bệnh rối loạn đông máu: Ở phụ nữ bị bệnh rối loạn đông máu, sẩy thai sau 10 tuần thường do bệnh rối loạn đông máu thuộc hội chứng kháng phospholipid. Cần gặp thầy thuốc để được tư vấn khi có bệnh rối loạn đông máu.
Mất cân bằng về hormon: Một số thầy thuốc tin rằng mất cân bằng hormon có thể gây ra sẩy thai tái diễn nhưng vấn đề này còn đang có nhiều ý kiến trái ngược, nếu đã từng có thai trên một lần thì cần trao đổi với thầy thuốc về nồng độ hormon.
Những nguyên nhân do gen: Một số phụ nữ và nam giới mang gen biến dị “thầm lặng”, không gây vấn đề gì cho họ nhưng có thể tăng khả năng sẩy thai.
Nhiễm khuẩn: Mọi loại nhiễm khuẩn đều có thể gây sẩy thai, từ nhiễm các bệnh lây truyền qua đường tình dục như giang mai cho đến các bệnh do thực phẩm đem lại như nhiễm khuẩn do Listeria, Salmonella...
Một trong những yêu cầu của chăm sóc trước sinh sớm là phải làm các tetst phát hiện nhiễm khuẩn và điều trị càng sớm càng tốt.
Những nguyên nhân khác: Nghề phơi nhiễm với hóa chất: thuốc trừ sâu và nhiều hóa chất làm từ dầu hỏa tăng nguy cơ sẩy thai. Phụ nữ làm việc với hóa chất hay có bạn tình thường xuyên tiếp xúc hóa chất đều có thể tăng nguy cơ bị sẩy thai.
Có cách nào để giảm nguy cơ tái diễn sẩy thai? Rất tiếc không có nhiều liệu pháp dành cho phụ nữ đã bị sẩy thai tái diễn. Thường chỉ khuyến cáo theo dõi sít sao về lâm sàng và bằng siêu âm. Từ bỏ các thói quen xấu như hút thuốc lá và kiểm soát các bệnh mạn tính.
Sau sẩy thai tùy thuộc vào thời gian hỏng thai mà nên tránh có thai từ 3 - 6 tháng.
BS. Đào Xuân Dũng


Thứ Năm, tháng 7 31, 2014
sống khỏe