Thứ Năm, 23 tháng 4, 2015

Hướng dẫn bổ sung vitamin khi mang bầu

Phụ nữ trước khi mang thai và mang thai từ 12 tuần trở lên đều cần bổ sung acid folic để hạn chế dị tật thai nhi. 
v-6556-1428311149.jpg
Infographic: P.E.
Song Giang

Phòng chống tăng cân quá mức ở phụ nữ mang thai

Có nhiều bằng chứng cho thấy việc tăng cân sau khi mang thai là khó tránh khỏi và người phụ nữ luôn luôn đấu tranh để giảm cân nặng từ lúcmang thai đến khi sinh con. Nhiều phụ nữ bị tăng cân từ từ trong mỗi lần mang thai và cho đến khi họ đạt đến mức béo phì, thường gặp khi có nhiều hơn ba đứa con.
Nếu có thể cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe của những phụ nữ trẻ khi họ mang thai thì có khả năng phòng chống được vấn đề béo phì sau này. Ở Nam Phi, người ta khó nhận được sự cân bằng vì có nhiều phụ nữ trẻ mang thai khi họ đã ở tình trạng quá cân hoặc thiếu dinh dưỡng nặng.
Người phụ nữ phải ý thức được vấn đề trong giai đoạn trước mang thai, phải ăn uống cân bằng và giữ một thể trọng bình thường. Chẳng hạn phụ nữ béo phì cần phải giảm cân trọng 4,5kg trước khi mang thai, nguy cơ đái tháo đường thai kỳ sẽ giảm đi đáng kể.
Phòng chống tăng cân quá mức ở phụ nữ mang thai
Giảm cân trước khi mang thai còn giảm được nguy cơ khiếm khuyết ống thần kinh ở thai nhi. Nên nhớ rằng nếu dùng các loại thuốc giảm cân dạng không kê đơn thì không tốt, có thể gây ra nguy hiểm cho thai nhi vì việc tạo ra các chất độc hại (thậm chí ở cả những thuốc ghi là “an toàn, tự nhiên và thảo dược”). Trong khoảng thời gian 9 tháng mang thai, đôi khi sự tính lũy cân có thể được mong chờ do người sản phụ phải ăn cho hai người. Các chuyên gia khuyến cáo phụ nữ mang thai sẽ phải mất ít nhất 18 tháng để giảm được cân nặng sau khi sinh.
Nghiên cứu đã chỉ ra cách thức tốt nhất để tác động lên cân nặng phụ nữ sau khi sinh là việc cung cấp các kiến thức về ăn uống trong giai đoạn mang thai.

Minh Thư (Theo Association for Dietetics in South Africa,

Khắc phục trục trặc trong thai kỳ

Mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ, đây là một quá trình sinh lý bình thường. Tuy nhiên trong thời gian mang thai, chị em có thể gặp những khó chịu, khiến chị em ít nhiều lo lắng  nhưng tất cả những điều đó lại là chuyện hoàn toàn bình thường. Nguyên nhân của không ít các triệu chứng này là do sự thay đổi nội tiết tố trong cơ thể lúc mang thai. Sau đây là những bệnh thường gặp và cách khắc phục.
Ốm nghén: Là một trong những dấu hiệu thai kỳ xuất hiện đầu tiên, có thể xảy ra vào bất cứ lúc nào trong ngày. Sự mệt mỏi có thể làm cho vấn đề trầm trọng hơn. Triệu chứng buồn nôn, nôn, sợ một số mùi vị nhưng lại thèm ăn của lạ (chua, chát, đắng...). Trong giai đoạn nghén, hãy chọn ăn những gì mình thích, tránh dùng các thức ăn và mùi làm cho cảm thấy buồn nôn. Bạn có thể ăn mỗi lần một ít, ăn nhiều lần trong ngày. Ợ chua và thấy đau rát ở ngay giữa lồng ngực cũng thường gặp khi nghén. Nguyên nhân liên quan đến nội tiết gây mềm và giãn van tâm vị (van giữa dạ dày và thực quản), vì vậy chất chua trong dạ dày trào ngược trở lại thực quản. Để hạn chế, bạn nên uống một cốc sữa nóng trước khi đi ngủ và nâng cao đầu giường hoặc sử dụng thêm gối để gối đầu.
Khắc phục trục trặc trong thai kỳ
Do tử cung mang thai sẽ to ra và đè ép lên bàng quang gây són tiểu.Do tử cung mang thai sẽ to ra và đè ép lên bàng quang gây són tiểu.
Chảy máu chân răng: Thường khi có thai lợi dễ bị viêm và chảy máu chân răng, đặc biệt là sau khi đánh răng, vì các cơ vùng này trở nên mềm, phì đại hơn và dễ bị tổn thương trong lúc mang thai. Các tổ chức quanh cổ răng có thể sưng đỏ khiến cho bựa tích tụ ở chân răng. Ðiều này có thể dẫn tới viêm quanh răng (nha chu viêm) hoặc sâu răng. Nếu thường xuyên chảy máu mỗi khi đánh răng bạn nên đi khám nha sĩ.
Bị vọp bẻ (chuột rút): Là do co thắt cơ bắp gây đau, thường là xảy ra ở cẳng chân và bàn chân, nhiều khi vọp bẻ vào ban đêm làm thai phụ đau nên tỉnh giấc gây mất ngủ. Vọp bẻ thường xảy ra khi thai ở những tháng cuối cũng có khi ở 3 tháng đầu do nghén nặng nôn nhiều, không ăn được nên thiếu các vi chất, trong đó hay gặp là thiếu canxi. Triệu chứng khi vọp bẻ là cẳng chân duỗi đơ với các ngón chân quắp xuống gây đau buốt khó chịu. Nếu thường xuyên bị vọp bẻ gây mất ngủ ảnh hưởng sức khỏe thì bạn cần đi khám, có thể bác sĩ sẽ kê đơn thuốc bổ sung thêm canxi và vitamin D.
Chứng táo bón: Hormon progesterone của thời kỳ mang thai làm chùng giãn các cơ ruột khiến cho các nhu động ruột giảm đi và gây ra chứng táo bón. Bạn nên ăn thức ăn giàu chất xơ và uống nhiều nước. Chú ý chọn các loại rau củ có tính nhuận tràng như rau lang, mồng tơi, rau đay, khoai tây, bí đỏ, đu đủ chín, chuối chín... Hãy đi ngoài bất cứ lúc nào bạn cảm thấy có nhu cầu. Hãy đi khám bác sĩ nếu chứng táo bón kéo dài vì nếu để lâu có thể là nguyên nhân gây bệnh trĩ. Tuyệt đối không dùng thuốc nhuận tràng.
Đái dắt, đái són:  Đái dắt có thể gặp ở thai 3 tháng đầu là do tử cung to lên trong tiểu khung nên chèn ép vào bàng quang. Triệu chứng này sẽ thuyên giảm trong các tháng giữa của thai kỳ. Bạn nên đi khám bác sĩ nếu thấy buốt mỗi khi đi tiểu vì có thể là bạn đã nhiễm khuẩn đường tiểu. Són đái thường hay gặp trong 3 tháng cuối. Thường són một ít nước tiểu ra quần vào những lúc chạy, ho, hắt hơi hay cười. Là do các cơ sàn chậu yếu và do em bé ngày một lớn ép lên bàng quang. Để khắc phục tình trạng này bạn nên đi tiểu thường xuyên, nên tập luyện các cơ sàn xương chậu đều đặn, có thể theo một khóa học tiền sản do bác sĩ chuyên sản hướng dẫn.
Viêm âm đạo do nấm: Bình thường dịch âm đạo trong hoặc trắng đục không mùi. Khi mang thai, bạn sẽ thấy tiết ra hơi nhiều hơn, không đau hay rát. Bạn có thể nhận thấy cửa mình tăng tiết chất nhầy (huyết trắng) do có biến động nội tiết tố trong lúc mang thai. Tuy nhiên, nếu gây ngứa ngáy khó chịu cũng có khi bạn thấy đau rát khi đi tiểu là có viêm âm đạo và hay gặp là nấm âm đạo. Ðiều quan trọng là cần chữa cho hết chứng bệnh này trước khi em bé ra đời vì chứng bệnh này có thể lây qua miệng bé khi đẻ đường dưới làm cho em bé bị nấm miệng sơ sinh, việc nuôi bé trở thành khó. Vì vậy cần vệ sinh vùng kín bằng nước sạch, thường xuyên thay quần lót, tránh thụt rửa âm đạo, không nên dùng xà phòng có độ tẩy cao để rửa âm hộ vì dùng xà phòng để rửa sạch có thể làm cho chứng viêm âm đạo do nấm nặng hơn. Tránh mặc quần lót bằng vải nilon, nếu ngứa và khí hư ra nhiều kèm tiểu rát cần khám bác sĩ ngay để được chỉ định dùng thuốc đặt âm đạo.

BS. Phạm Minh Nguyệt

Thể dục đúng cách khi mang bầu

Tập thể dục khi mang thai là một việc làm cần thiết nhưng không được thực hiện một cách tùy tiện. Các bà bầu hãy chú ý các quy tắc an toàn trong luyện tập để đảm bảo an toàn cho mẹ và bé.
Thể dục đúng cách khi mang bầu
Rất cần hỏi ý kiến bác sĩ: Cho dù bạn đã có thói quen tập thể dục từ trước khi mang thai thì bạn vẫn nên đi kiểm tra sức khỏe và hỏi ý kiến bác sĩ xem bài tập nào là phù hợp, bài tập nào gây nguy hiểm... Nếu bạn chưa luyện tập bao giờ, bạn càng nên trao đổi với bác sĩ để chọn những bài tập dành cho người mới bắt đầu.
Chọn trang phục phù hợp: Bạn nên chọn những loại trang phục rộng rãi để dễ thở trong quá trình tập luyện. Lúc mới khởi động, nên mặc thêm một chiếc áo khoác mỏng bên ngoài (khi mang thai, thân nhiệt cao hơn bình thường, nếu chủ quan sẽ dễ bị nhiễm lạnh). Nhưng bạn cũng không được để cơ thể quá nóng sẽ ảnh hưởng không tốt tới em bé. Nên chọn áo quần rộng thoáng, đi đôi giày tập phù hợp với kích cỡ chân trong giai đoạn chân bị phù.
Thể dục đúng cách khi mang bầu
Không quên khởi động: Dù bất kỳ lý do nào, bạn cũng không nên bỏ qua 5 - 10 phút khởi động trước khi tập luyện chính thức. Tác dụng của khởi động là khiến các mạch máu lưu thông, cung cấp ôxy tới các cơ bắp, “bôi trơn” các khớp xương và ngăn ngừa chấn thương.
Tập luyện nhẹ nhàng: Không tập những môn thể thao đòi hỏi phải di chuyển và thay đổi vị trí liên tục như bóng chuyền, cầu lông, tennis... Trong thời gian mang thai, các khớp xương dễ bị yếu, khả năng giữ cân bằng cũng thay đổi, nguy cơ bị chấn thương khi luyện tập là rất lớn. Nên chọn hình thức tập nhẹ như đi bộ, bơi lội...
Không nín thở lâu: Nên tránh nín thở trong những động tác thể dục thông thường (trừ những bài tập thở kiểu yoga), việc nhịn thở trong vòng vài giây (hoặc hơn) dễ làm giảm sự cung cấp ôxy tới bào thai. Bạn cũng nên đảm bảo giữ nhịp thở ổn định trong những phần bài tập khó.
Không thay đổi động tác đột ngột: Bụng càng lớn sẽ càng khó khăn trong việc giữ thăng bằng. Đó là lý do vì sao bạn nên đặc biệt cẩn thận khi chuyển các động tác hoặc thay đổi vị trí luyện tập. Thao tác quá nhanh sẽ khiến bạn bị chóng mặt, dễ bị ngã.
Không tập đến kiệt sức: Thời gian mang thai không phải là giai đoạn bạn tập luyện với mục đích giảm cân, vì thế không nên ép cơ thể hoạt động quá công suất hoặc duy trì thời gian luyện tập dài hơn (dù chỉ là 5 phút).
Không ngồi ngay sau lúc tập luyện: Dành khoảng 5 - 10 phút để đi lại nhẹ nhàng, thả lỏng toàn thân trước khi kết thúc buổi tập sẽ khiến cho nhịp tim ổn định, các mạch máu tuần hoàn bình thường, tránh cho bạn cảm giác choáng váng.
Uống nhiều nước: Nên uống nước lọc trước, trong và sau quá trình luyện tập. Điều này sẽ giúp bạn tránh được tình trạng mất nước - nguyên nhân của những cơn co bóp dạ con, thân nhiệt tăng. Nếu mất nước nghiêm trọng sẽ gây nguy hiểm cho cả bạn và bé. Tuy nhiên, cần uống từ từ.

Trần Việt

Tuyệt chiêu giúp “miễn nhiễm” với bệnh phụ khoa

Triệu chứng nhỏ, đừng bỏ qua
Thời tiết ẩm ướt cũng là cơ hội “vàng” để cho các bệnh viêm nhiễmđường sinh sản phát triển. Nhiều chị em thấy có những biểu hiện khác thường ở vùng kín như ra khí hư nhiều, khí hư đục đặc mùi hôi khó chịu, kèm theo ngứa rát, cá biệt có chị còn đi tiểu thấy cảm giác nóng, buốt, khi “gần chồng” thấy đau rát... Đấy là những dấu hiệu ban đầu cho thấy bạn đang bị viêm nhiễm phụ khoa.
Ảnh minh họa.
Ảnh minh họa.
Viêm nhiễm phụ khoa sẽ tấn công nhiều hơn tới những chị em thường xuyên có thói quen mặc quần jeans bó sát, hoặc mặc quần tất với chất liệu chủ yếu là nilon. Vì lượng dịch tiết sinh lý từ vùng kín không thoát được ra ngoài mà đọng lại, tạo ra môi trường thuận lợi cho vi khuẩn và nấm gây hại tăng sinh.
Đây là căn bệnh mà hầu hết chị em nào cũng mắc phải. Nó chưa nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng nhưng luôn gây phiền toái cho chị em. Tuy nhiên đã nhiều trường hợp do chủ quan, không chữa trị dứt điểm dẫn đến hậu quả rất nghiêm trọng như: bị bội nhiễm do vi trùng, dẫn đến viêm nhiễm vùng chậu, viêm nhiễm vùng kín – những bệnh tưởng chừng đơn giản những rất dễ dẫn đến vô sinh và thậm chí còn gây tử vong khi có biến chứng.
Các chứng bệnh viêm nhiễm vùng kín dễ mắc phải nhất trong thời gian này phải kể đến nấm vùng kín, viêm âm đạo, nấm âm đạo, nấm candida... Một lời khuyên tốt nhất là chị em không nên tự ý dùng thuốc để điều trị căn bệnh khó nói này, mà cần được sự chỉ dẫn và tư vấn của bác sĩ chuyên khoa. Vì lạm dụng thuốc, sử dụng dung dịch vệ sinh không đúng có thể làm mất cân bằng độ pH ở vùng kín, gây khó khăn cho việc điều trị sau này.
Những việc làm cần thiết để tránh nhiễm bệnh
- Phơi quần lót ra chỗ thoáng.
- Thay quần áo lót thường xuyên.
- Vệ sinh sạch sẽ vùng kín mỗi ngày và giữ vùng kín luôn khô ráo. Bạn không nên vệ sinh quá 2 lần/ngày bởi “sạch” quá, môi trường vi khuẩn tự nhiên của vùng kín dễ bị mất cân bằng cũng dễ nhiễm bệnh.
- Chú ý hong, sấy khô hay là quần áo đặc biệt là quần áo lót trước khi mặc (nếu chúng hơi ẩm hoặc trời nồm). Nếu có điều kiện thì hãy giặt quần áo lót bằng nước nóng.
- Không mặc quần áo lót bó, chật. Chọn quần áo lót vải cotton để thoáng khí.
- Quan hệ tình dục an toàn. Đặc biệt trước và sau khi “quan hệ”, chị em cần phải vệ sinh sạch sẽ kể cả nam và nữ đẻ tránh mắc phải các bệnh tình dục.
- Hạn chế stress, lo lắng, mệt mỏi kéo dài; tích cực luyện tập thể dục thể thao và có chế độ ăn uống khoa học.
- Khi có các biểu hiện ngứa ngáy, khí hư nhiều, đục, hôi cần đến khám ngay. Không nên tự mua thuốc về đặt âm đạo vì cần xác định là viêm nhiễm hay do nấm âm đạo...
MH (Th)

Hạn chế tai biến vỡ tử cung- Cách gì?

Vừa qua, tại Bệnh viện đa khoa huyện Diễn Châu (Nghệ An) xảy ra một trường hợp sản phụ tử vong trong khi chuyển dạ đẻ. Nguyên nhân được xác định là vỡ tử cung gây sốc mất máu đã gây ra nhiều thắc mắc cho gia đình sản phụ cũng như nhân dân. Để giúp bạn đọc hiểu thêm về tai biến sản khoa này, xin giới thiệu bài viết dưới đây.
Nguyên nhân gây vỡ tử cung
Có nhiều nguyên nhân gây vỡ tử cung, có nguyên nhân thuộc về người mẹ, có nguyên nhân thuộc về thai nhi.
Về phía người mẹ:
Khung chậu hẹp, méo mó làm đầu thai nhi không chui lọt để ra ngoài.
Mẹ có khối u ở đoạn dưới cổ tử cung, ở cổ tử cung, ở đường sinh dục dưới, khối u này chặn đường ra của thai.
Mẹ đã đẻ nhiều lần nên tử cung mỏng, nhão, các cơn co mạnh gây vỡ, rách lớp cơ đoạn dưới tử cung.
Mẹ có vết mổ cũ ở tử cung (mổ tử cung lấy thai, mổ cắt bóc khối u ở tử cung) nên vết sẹo tử cung trở thành nơi yếu nhất, cơn co tử cung mạnh có thể làm toác vết mổ, gây vỡ cổ tử cung.
Hạn chế tai biến vỡ tử cung- Cách gì?
Forceps, một trong số thủ thuật khi cổ tử cung đã mở hết nhưng rối loạn cơn co, có dấu hiệu dọa vỡ tử cung.
Về phía thai nhi:
Thai nhi to quá không chui lọt qua khung chậu, mặc dù khung chậu bình thường.
Thai nhi dị dạng có đầu to quá mức do não chứa đầy nước nên không qua được khung chậu.
Thai nằm trong tử cung theo tư thế không bình thường như thai nằm ngang (ngôi ngang) thai không cúi đầu cũng không ngửa mặt (ngôi trán) thai đưa mặt ra trước nhưng cằm lại quay về phía xương cùng của người mẹ (ngôi mặt cầm sau); các tư thế bất thường này làm cho thai không chui qua khung chậu để ra ngoài trong khi các cơn co dồn dập cứ thúc thai nhi xuống gây vỡ tử cung.
Tử cung có thể bị vỡ khi làm các thủ thuật, kéo thai, xoay thai, cặp và kéo foocxep trong điều kiện không thuận lợi, không đúng quy định.
Các dấu hiệu cho biết tử cung sắp vỡ và tử cung đã vỡ
Vỡ tử cung thường xảy ra trong lúc trở dạ đẻ. Hạn hữu cũng có trường hợp vỡ trong các tháng cuối trước khi chuyển dạ do tử cung có sẹo mổ cũ và vết sẹo đã bị nhiễm khuẩn, nên khi có cơn co mạnh sẹo bị nứt dần gây vỡ. Nếu theo dõi sát sản phụ, ta có thể phát hiện được các dấu hiệu chứng tỏ tử cung sắp bị vỡ, đó là triệu chứng dọa vỡ tử cung.
Biểu hiện của dọa vỡ tử cung: Cơn co tử cung ngày càng mạnh và nhanh, sản phụ đau đớn vật vã. Nhìn trên ổ bụng thấy đáy tử cung cao dần lên so với rốn. Ở dưới rốn thấy tử cung có một chỗ thắt lại làm cho tử cung không còn hình trứng mà có hình một quả bầu, vòng thắt này ngày càng rõ rệt. Vòng thắt này chính là ranh giới giữa thân tử cung và đoạn dưới tử cung và tử cũng sẽ vỡ dưới vòng thắt.
Khi phát hiện thấy các triệu chứng dọa vỡ tử cung phải tiêm ngay thuốc giảm co (papaverin 0,04g) và lấy thai ra ngay bằng foocxep nếu có chỉ định và đủ điều kiện. Nếu không đủ điều kiện lấy thai ra, phải chuyển sản phụ đi tuyến trên ngay. Nếu ta không phát hiện kịp thời, dọa vỡ tử cung không được xử trí sẽ dẫn tới vỡ tử cung.
Hạn chế tai biến vỡ tử cung- Cách gì?
Theo dõi quá trình chuyển dạ hạn chế tai biến.
Biểu hiện của vỡ tử cung: Cơn co tử cung ngày một dồn dập, sản phụ đau tăng lên dữ dội rồi tự nhiên giảm đau. Khi đó tử cung đã vỡ nên mất hẳn cơn co hoặc cơn co chỉ còn rất nhẹ, hình dáng tử cung thay đổi, có thể sờ ngay thấy thai nhi dưới da bụng người mẹ, tim thai mất hoặc đập rất yếu. Vì tử cung bị vỡ nên máu sẽ chảy ồ ạt vào ổ bụng làm cho sản phụ bị choáng, mặt nhợt nhạt, thở nông, vã mồ hôi, chân tay lạnh, mạch nhỏ và nhanh huyết áp tụt thấp. Sản phụ có thể chết ngay vì choáng và chảy máu.
Cách xử trí
Phải theo dõi thật sát các sản phụ đang chuyển dạ để phát hiện sớm dọa vỡ tử cung. Nếu cơn co quá nhanh và dồn dập thì tiêm ngay thuốc giảm co papaverin 0,04g (tiêm bắp) và xem có nguyên nhân đẻ khó nào không. Nếu sản phụ bị vỡ tử cung thì phải chuyển mổ lấy thai và hồi sức thật nhanh. Nếu không có điều kiện mổ tại chỗ thì lên tuyến trên thật nhẹ nhàng và nhanh chóng hoặc mời tuyến trên về mổ lấy thai và khâu cắt tử cung ngay để cầm máu.
Đề phòng vỡ tử cung
Làm tốt công tác đăng ký quản lý thai nghén. Mọi thai phụ phải đến đẻ ở nhà hộ sinh xã hoặc khoa sản bệnh viện. Người nữ hộ sinh và y tá xã phải biết phát hiện sớm các nguyên nhân có thể gây vỡ tử cung để thai phụ này có thể đến đẻ tại các cơ sở y tế có trung tâm phẫu thuật, phải theo dõi thật sát các sản phụ đang chuyển dạ để tiên lượng được các ca đẻ khó và gửi đi tuyến trên kịp thời; phải rất cẩn thận khi dùng thuốc tăng co oxytoxin vì dùng trước khi thai ra có thể gây vỡ tử cung; không được kéo thai, xoay thai, cặp kéo foocxep nếu chưa được huấn luyện, nếu không có chỉ định và không đủ điều kiện kỹ thuật.

BS. Trần Kim Oanh

Ðẩy lùi viêm đường tiết niệu khi mang thai

Nhiễm khuẩn đường tiết niệu là bệnh lý hay gặp ở người phụ nữ, đặc biệt hay gặp ở phụ nữ mang thai. Đôi lúc nhiễm khuẩn đường tiết niệu xảy ra âm thầm, lặng lẽ không có triệu chứng rõ ràng nhưng đa số đều có biểu hiện lên chức năng tiểu tiện tùy theo vị trí nào của hệ tiết niệu như viêm bàng quang, viêm đài bể thận, viêm thận một bên hoặc hai bên. Các ổ nhiễm khuẩn có thể phát hiện sớm trước lúc mang thai hoặc đồng thời song song trong suốt thai kỳ.
Nguyên nhân gây bệnh
Thời kỳ mang thai nhất là trong 3 tháng cuối, tử cung thường nghiêng sang phải sẽ đè ép vào niệu quản và thận phải nên dễ gây ứ nước thận và viêm thận. Hơn nữa, trong thời kỳ có thai, sự thay đổi về sinh lý nội tiết như dưới tác dụng của progesterone khi mang thai sẽ làm nhu động ruột, nhu động niệu quản giảm nên thai phụ hay bị táo bón và ứ đọng nước tiểu hơn. Hoặc trong thời kỳ hậu sản, một số sản phụ thường bí tiểu do cuộc đẻ gây ra như chấn thương đường sinh dục dưới, do thủ thuật Forceps, giác hút, đại kéo thai. Hoặc dùng thông tiểu trước, trong và sau sinh không đảm bảo vô khuẩn.
Ðẩy lùi viêm đường tiết niệu khi mang thai
Điều trị triệt để khi bị viêm tiết niệu để không nguy hiểm khi mang thai.
Ảnh hưởng đối với thai kỳ
Tùy vị trí bị nhiễm khuẩn (bàng quang, niệu quản hay bể thận) mà có sự ảnh hưởng khác nhau đến thai kỳ: Khoảng 25% các trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu không có triệu chứng sẽ dẫn đến nhiễm khuẩn tiết niệu có triệu chứng. Một số trường hợp có thể dẫn đến động thai, sẩy thai đặc biệt vào những tháng đầu tiên của thời kỳ mang thai. Nếu viêm thận - bể thận sẽ ảnh hưởng nặng nề hơn thường dẫn đến đẻ non, thai chết trong tử cung nếu chẩn đoán muộn và điều trị không tích cực.
Cảnh giác viêm bể thận trong thai kỳ
Đây là hình thái nặng của nhiễm khuẩn đường tiết niệu đối với thai kỳ hay gặp vào 3 tháng cuối của thai kỳ, nguyên nhân hay gặp là do nhiễm khuẩn tiết niệu từ dưới ngược dòng lên trên (theo niệu quản). Bệnh xuất hiện đột ngột trên một thai phụ bình thường hoặc ở thai phụ đã bị viêm niệu đạo hoặc viêm bàng quang trước đó với triệu chứng như: tiểu buốt, tiểu khó, tiểu máu; sốt cao (có thể tới 40oC, rét run; đau một bên hông hoặc hai bên (lúc khám); kém ăn hoặc chán ăn; buồn nôn, hay nôn mửa. Xét nghiệm nước tiểu có nhiều vi khuẩn, bạch cầu, mủ... Nếu cấy máu có thể gặp 15% trường hợp có nhiễm khuẩn máu.
Đừng để viêm thận - bể thận mạn tính
Nếu thai phụ có tiền sử bị viêm tiết niệu (niệu đạo, viêm bàng quang hoặc viêm thận - bể thận) cấp tính cần điều trị triệt để. Vì triệu chứng viêm thận - bể thận thường âm thầm chỉ biểu lộ suy chức năng thận (suy thận) lúc bệnh quá nặng.
Trường hợp chức năng thận còn tốt, huyết áp còn trong giới hạn bình thường thì thai vẫn phát triển bình thường. Điều trị như đối với viêm thận cấp tính nhưng cần chú ý theo dõi kỹ về chức năng thận. Đôi khi có thể kết hợp chạy thận nhân tạo nếu đủ điều kiện và đúng chỉ định. Nói chung nếu suy thận thì tiên lượng cho mẹ và thai thường xấu.
Chú ý trong phòng ngừa và điều trị
Cần chẩn đoán sớm và phải điều trị tích cực các trường hợp nhiễm khuẩn tiết niệu trong thai kỳ để tránh các biến chứng xấu có hại cho cả mẹ và thai nhi. Vì vậy, thai phụ cần định kỳ khám thai và xét nghiệm nước tiểu nếu có biểu hiện bất thường. Ngoài ra, trong quá trình khám và xử trí cần tránh các yếu tố thuận lợi gây nên nhiễm khuẩn tiết niệu như sang chấn sản khoa, cần hạn chế thông tiểu nếu thấy chưa cần thiết; cần điều trị viêm âm hộ, âm đạo, cổ tử cung trong quá trình thai nghén để phòng lây nhiễm sang đường tiết niệu. Nhớ uống nhiều nước 1,5 - 2 lít/ngày để phòng sỏi tiết niệu.
Khi phát hiện thai phụ bị viêm thận - bể thận thì cần phải nhập viện để điều trị. Bao gồm: nghỉ ngơi tuyệt đối tại giường; Truyền dịch và theo dõi lượng nước tiểu để đánh giá chức năng thận và phát hiện sớm hình thái nhiễm khuẩn tiết niệu lan tỏa. Theo dõi thêm về các chỉ số huyết áp, mạch, nhiệt độ. Dùng kháng sinh có kháng phổ rộng... hoặc có thể dùng phối hợp các kháng sinh. Theo dõi kỹ trong 2 ngày đầu điều trị, nếu các triệu chứng lâm sàng nói trên giảm hoặc biến mất cần tiếp tục điều trị thêm cho đến 10 ngày. Nếu sau 2 ngày theo dõi (mặc dù đã dùng kháng sinh tích cực) vẫn không thuyên giảm về triệu chứng, cần phải đổi kháng sinh dựa theo kết quả kháng sinh đồ.

BS. Vũ Hồng Ngọc

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons